TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 79/2024/HSST Ngày: 17/7/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Xuân Thu;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Khắc Hiếu và bà Lê Thị Đông Nguyệt.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa tham gia phiên tòa:
Ông Đặng Quốc Cường - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 16, 17 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 84/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2024/QĐST - HS ngày 26 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:
Phạm Văn S, sinh năm 1995; Nơi ĐKNKTT và chổ ở: khu phố D, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Không; Cha: Phạm Văn K, sinh năm 1974; Mẹ: Võ Thị C, sinh năm 1965; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: - Ngày 27/02/2013 bị TAND thành phố Tuy Hoà xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 06 tháng về tội Trộm cắp tài sản; - Ngày 06/7/2017 bị Công an thành phố T xử phạt hành chính 1.750.000 đồng về hành vi gây thương tích; - Ngày 12/10/2017 bị TAND thành phố Tuy Hoà xử phạt 03 năm tù về tội Giao cấu với trẻ em, chấp hành xong ngày 16/4/2020. Bị cáo bị tam giam ngày 23/11/2023. Có mặt tại phiên toà.
Nguyễn Đình Đ, sinh năm 1982; Nơi ĐKNKTT và chổ ở: thôn P, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Cha: Nguyễn Đình T (chết); Mẹ: Huỳnh Thị M, sinh năm 1946; Vợ: Phan Thị H, sinh năm 1981 (đã ly hôn); Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 28/4/2020 bị Công an phường P xử phạt 750.000 đồng về hành vi gây mất trật tự công cộng. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên toà.
* Bị hại:
Văn Phú H1, sinh năm 1993; Địa chỉ: khu phố B, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
Văn Phú T1, sinh năm 1979; Địa chỉ: Thôn P, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
* Người làm chứng:
Nguyễn Thị Bích H2, sinh năm 1978; Địa chỉ: khu phố B, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
Bùi Khắc V, sinh năm 1991; Địa chỉ: khu phố C, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ ngày 23/7/2023, Văn Phú H1 cùng Văn Phú T1, Nguyễn Thị Bích H2, Bùi Khắc V và bạn gái (chưa rõ họ tên) đang nhậu tại trại bò của anh T1 ở Khu phố E, Phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên thì Nguyễn Đình Đ và Phạm Văn S đến cùng vào nhậu. Trong lúc nhậu, Đ có xích mích với H1 nên Đ và S bỏ về. Đi được một đoạn, thì Đ và S quay lại, Đ vào trước dùng tay, chân đánh H1 làm Hiệu té ngã xuống đất, thấy vậy S cũng vào dùng tay chân đánh H1 làm H1 bỏ chạy. Thấy H1 bị đánh, T1 (là chú của H1) lấy cái rựa ra doạ Đ và S mục đích để can ngăn thì bị Đ1 đến giật lấy rựa và vật T1 ngã xuống đất, Đ cầm lưỡi rựa kê vào cổ T1 đe doạ và làm rách da vùng cổ T1 gây thương tích. Lúc này, H1 đang trốn trong bụi chuối biết T1 bị Đ kê rựa vào cổ nên H1 chạy ra định giật lấy rựa can ngăn nhưng bị S giật được rựa trước và cầm đánh H1, H1 chụp được lưỡi rựa và giằng co với S, S giật mạnh lưỡi rựa gây thương tích ở các ngón II, III, IV, V bàn tay trái của H1. Hiệu bỏ chạy, Sâm cầm rựa đuổi theo thì bạn gái Vũ níu giữ cán rựa, giằng co can ngăn không cho S đuổi đánh H1 nên S gọi Đ, Đ thấy vậy nên đã đe doạ bạn gái Vũ buộc bạn gái Vũ buông rựa ra. Sâm cầm rựa chạy đuổi theo đánh H1 nhưng không được nên cầm rựa bỏ về, S đưa rựa cho Đ đem về nhà Đ cất giấu.
Tại Bản kết luận giám định thương tích số 305/KLTTCT-PYPY ngày 25/8/2023 kết luận Văn Phú Hiệu bị thương tích với tỷ lệ 19%, do vật có cạnh sắc gây ra.
Tại Bản kết luận giám định thương tích số 304/KLTTCT-PYPY ngày 25/8/2023 đã kết luận Văn Phú Tiến bị thương tích với tỷ lệ 02%, do vật có cạnh gây ra.
Cáo trạng số 39/CT - VKSTH ngày 12/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa đã truy tố bị cáo Phạm Văn S và Nguyễn Đình Đ về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa công bố nội dung bản cáo trạng, bổ sung lý lịch nhân thân của bị cáo Nguyễn Đình Đ, trình bày lời luận tội và đề nghị: Giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận nội dung cáo trạng, tuyên bố các bị cáo Phạm Văn S và Nguyễn Đình Đ phạm tội Cố ý gây thương tích. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo S từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam, bị cáo Đ từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án; Về trách nhiệm dân sự: tại phiên toà các bị cáo S, Đ tự nguyện chấp nhận bồi thường số tiền 30.000.000 đồng theo mức yêu cầu của bị hại H1, S và Đ tự thoả thuận mỗi bị cáo bồi thường 15.000.000 đồng nên căn cứ Điều 246 Bộ luật Tố tụng dân sự đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận; Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tịch thu tiêu huỷ 01 cái rựa do không còn giá trị sử dụng.
Bị cáo Phạm Văn S trình bày: bị cáo thừa nhận thương tích H1 do bị cáo dùng rựa gây ra. Bị cáo ăn năn hối hận và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt; về dân sự: bị cáo và bị cáo Đ liên đới bồi thường cho bị hại Hiệu theo phần bằng nhau mỗi bị cáo bồi thường là 15.000.000 đồng.
Bị cáo Nguyễn Đình Đ trình bày: bị cáo và S cùng nhau quay lại chỗ nhậu, bị cáo có dùng tay chân đánh H1, thấy S và H1 ôm vật nhau nhưng không biết S có đánh Hiệu hay không. Khi đang nói chuyện với T1, bị cáo thấy S bị người phụ nữ níu giữ cán rựa không cho đánh Hiệu, nghe S kêu hỗ trợ thì bị cáo đe doạ làm người phụ nữ sợ bỏ tay ra để S tiếp tục đánh H1 nhưng không được nên S đưa rựa để bị cáo đem về nhà cất giấu. Nay bị cáo nhận thấy hành vi mình sai trái, đồng ý cùng với S liên đới bồi thường theo phần bằng nhau mỗi bị cáo bồi thường là 15.000.000 đồng cho bị hại Hiệu. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có thể chăm lo mẹ già yếu.
Bị hại Văn Phú T1 trình bày: tôi bị Đ dùng rựa làm rách da vùng cổ gây thương tích 2% nhưng không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự và bồi thường.
Người làm chứng Bùi Khắc V trình bày: ngày 23/7/2023, tôi ăn đám giỗ và quen biết người phụ nữ nhưng không rõ họ tên và địa chỉ. Anh T1 gọi điện rủ nhậu nên mới rủ người phụ nữ đi cùng. Tuy nhiên khi đến nơi cảm thấy mệt, tôi vào bên trong trại ngủ nên không nhậu chung cùng với Sâm Đ2 cũng như không chứng kiến diễn biến sự việc đánh nhau. Sau đó, tôi được chị H2 đánh thức dậy để chở anh H1 đi bệnh viện. Từ hôm xảy ra sự việc, tôi cũng không liên hệ gì với người phụ nữ đó nữa.
Người làm chứng Văn Thị Bích H3 trình bày: ngày 23/7/2023, mọi người ra dắt xe về thì S, Đ2 quay trở lại và nhào vô đánh Hiệu. T1 can ngăn thì bị Đ2 giật rựa kề cổ gây thương tích. Sau khi S, Đ2 bỏ đi, tôi kêu Vũ dậy chở H1 đi bệnh viện điều trị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can, thu thập chứng cứ và các hoạt động tố tụng khác đảm bảo đúng thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan và người tiến hành tố tụng nên không nhận xét gì thêm.
[2] Về tội danh và khung hình phạt: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án được thu thập hợp pháp, đủ cơ sở kết luận: Do có xích mích nhỏ trong lúc nhậu nên khoảng 22 giờ ngày 23/7/2023 Phạm Văn S và Nguyễn Đình Đ quay lại trại bò của anh Văn Phú T1 ở khu phố E, phường P, thành phố T dùng tay, chân đánh Văn Phú H1; T1 cầm rựa ra dọa để can ngăn thì bị Đ giật rựa và kề vào cổ làm rách da. Hiệu đang nấp thấy vậy nên chạy ra giật rựa thì bị S giật trước cầm đánh làm Hiệu bị thương các ngón II, III, IV, V của bàn tay trái. Hiệu bỏ chạy, Sâm cầm rựa đuổi theo thì bị bạn gái V (không rõ họ tên) níu giữ cán rựa, giằng co can ngăn nên S gọi Đời hỗ trợ. Thấy vậy, Đ đe dọa làm bạn gái Vũ buông rựa ra, S tiếp tục cầm rựa đuổi đánh H1 nhưng không được nên S đưa rựa cho Đ đem về nhà cất giấu. Hậu quả T1 bị tỷ lệ thương tích 2%, Hiệu bị tỷ lệ thương tích 19%. Như vậy, mặt dù thương tích 19% của H1 do S trực tiếp gây ra nhưng hành vi của Đ giúp sức S thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, Phạm Văn S, Nguyễn Đình Đ đã đồng phạm về tội Cố ý gây thương tích với các tình tiết “dùng hung khí nguy hiểm” và “có tính chất côn đồ” quy định tại các điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự nên phải chịu trách nhiệm hình sự quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
[3] Về tính chất, mức độ phạm tội: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khoẻ của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an ninh tại địa phương. Các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì mâu thuẫn nhỏ nhặt mà dùng vũ lực tấn công gây thương tích cho các bị hại; thể hiện tính hung hăng, manh động, côn đồ.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội có tính chất côn đồ nhưng đã áp dụng trong tình tiết định khung hình phạt nên không áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo thành khẩn khai báo, đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại mỗi bị cáo liên đới bồi thường theo phần bằng nhau là 15.000.000 đồng nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
[6] Về đặc điểm nhân thân: Các bị cáo S và Đ đều có nhân thân xấu. Bị cáo S từng bị xử phạt tù về tội trộm cắp tài sản, giao cấu với trẻ em, bị xử phạt hành chính về hành vi cố ý gây thương tích; bị cáo Đ từng bị xử phạt hành chính về hành vi gây rối trật tự công cộng nhưng các bị cáo không tu dưỡng, sửa chữa lỗi lầm để thành người có ích cho xã hội mà tiếp tục phạm tội.
[7] Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn quy định tại Điều 38 của Bộ luật Hình sự, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để có tác dụng giáo dục các bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét tính chất của đồng phạm và mức độ tham gia đồng phạm của từng bị cáo để có mức hình phạt tù phù hợp cho từng bị cáo, cụ thể:
[7.1] Đối với bị cáo S: Khi thấy H1 chạy ra can ngăn Đ đánh T1, bị cáo S liền giật rựa trên tay Đ và cầm đánh gây thương tích cho H1. Hiệu bỏ chạy nhưng bị cáo S vẫn tiếp tục cầm rựa đuổi theo, khi có người níu giữ, can ngăn thì bị cáo S kêu Đời hỗ trợ để thoát khỏi sự ngăn cản, tiếp tục cầm rựa tìm đánh H1. Bị cáo S tham gia với vai trò là người thực hành, trực tiếp gây thương tích cho H1 có tỉ lệ 19%, nên bị cáo S phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo Đ.
[7.2] Đối với bị cáo Đ: Bị cáo Đ phạm tội với vai trò đồng phạm giúp sức cho bị cáo S gây thương tích cho H1; bị cáo Đ là cũng là người thực hành khi cầm rựa kề cổ bị hại T1 gây thương tích tỉ lệ 02%, vai trò đồng phạm thấp hơn Sâm nên cần có mức án tù trong khung và thấp hơn S.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Văn Phú T1 bị Nguyễn Đình Đ dùng rựa gây thương tích 02% nhưng có không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không xem xét giải quyết.
Bị hại Văn Phú H1 yêu cầu bồi thường 30.000.000 đồng chi phí điều trị thương tích. Các bị cáo S, Đ đều thống nhất bồi thường theo yêu cầu của bị hại và tự thoả thuận mỗi bị cáo bồi thường 15.000.000 đồng nên ghi nhận sự thoả thuận bồi thường của bị cáo S, Đ.
[9] Về vật chứng vụ án: 01 cái rựa bằng sắt bị thu giữ cần tịch thu tiêu huỷ do có liên quan đến tội phạm.
[10] Về án phí: Các bị cáo bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và bồi thường dân sự phải chịu án phí dân sự theo quy định pháp luật. Do bị cáo Đ thuộc hộ cận nghèo và có đơn xin miễn nên miễn nộp tiền án phí dân sự cho Đ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Văn S và Nguyễn Đình Đ đều phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt:
Bị cáo Phạm Văn S: 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giam ngày 23/11/2023.
Bị cáo Nguyễn Đình Đ : 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
* Về trách nhiệm dân sự:
Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các điều 584, 587, 588 và 590 Bộ luật Dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận của bị cáo Phạm Văn S và bị cáo Nguyễn Đình Đ liên đới bồi thường cho bị hại Văn Phú H1 theo phần bằng nhau mỗi bị cáo bồi thường cho bị hại Văn P Hiệu số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) về khoản thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm.
Khi bản án có hiệu lực pháp luật và kể từ ngày có yêu cầu của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
* Về vật chứng vụ án:
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ 01 cái rựa bằng sắt, cán hình trụ dài 48,5cm trong rỗng, lưỡi dài 28cm, lưỡi sắc bén, đầu nhọn cong hình chữ C do có liên quan đến tội phạm (Theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 13/3/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T và Chi cục Thị hành án dân sự thành phố T).
* Về án phí:
Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 23, 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Phạm Văn S và Nguyễn Đình Đ mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 750.000 đồng (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Do bị cáo Đ thuộc hộ cận nghèo (được UBND xã xác nhận) và có đơn xin miễn án phí do đó miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm 750.000 đồng (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng) cho bị cáo Đ.
Bị cáo, người bị hại có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Xuân Thu |
Bản án số 79/2024/HSST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 79/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn S, Nguyễn Đình Đ phạm tội Cố ý gây thương tích
