TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU Bản án số: 79/2024/HSPT Ngày: 03/7/2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Bắc
Các Thẩm phán: Ông Đào Trọng Hải
Ông Bùi Thái Hùng
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Trung Tín - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 88/2024/TLPT-HS ngày 05 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo Nguyễn Văn H, Thạch H1, Nguyễn Thị C do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 63/2024/HS-ST ngày 24 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Bị cáo có kháng cáo:
- Nguyễn Văn H, sinh năm 1983 tại Cà Mau; Thường trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau; Nghề nghiệp: bảo vệ; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Con ông Nguyễn Văn N và bà Võ Thị K; không có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt ngày 06/04/2023, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (có mặt)
- Thạch H1, sinh năm 1969 tại Đồng Nai; Thường trú: thôn I, xã L, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: bảo vệ; Trình độ học vấn: 0/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Con ông Thạch Đ và bà Danh Thị S; có vợ là Nguyễn Thị Ú và 01 con sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt, tạm giam ngày 25/10/2023, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (có mặt)
- Nguyễn Thị C, sinh năm 1965 tại Quảng Ngãi; Thường trú: khu phố V, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: buôn bán; Trình độ học vấn: 2/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nữ; Con ông Nguyễn M và bà Lê Thị X; có chồng là Giang Kim H2 và 03 con, lớn nhất sinh năm 1987, nhỏ nhất sinh năm 1990; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại. (có mặt)
Ngoài ra, trong vụ án còn có các bị cáo khác, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngô Văn S1, Nguyễn Văn H, Lê Tiến H3, Lê Ngọc V, T, Võ Văn V1, Phạm Đức D, Vũ Ngọc Minh C1, Nguyễn Văn T đều làm việc tại Nhà máy luyện phôi thép trực thuộc Công ty CP T1 (Công ty P) thuộc KCN P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nên có quen biết với nhau. Trong khoảng thời gian từ tháng 10/2022 đến ngày 05/03/2023, S1, H, H3, V, H1, V1, D, C1, T đã nhiều lần lấy trộm tài sản của Nhà máy. Cụ thể:
- Khoảng đầu tháng 10/2022, Ngô Văn S1 đã gặp và nói với Lê Tiến H3, Lê Ngọc V trong quá trình làm việc tại Nhà máy, thấy có tài sản gì thì lấy trộm đưa cho S1 mang ra ngoài bán rồi lấy tiền chia nhau tiêu xài. H3, V đồng ý. Trong quá trình làm việc thì H3 rủ V lấy cắp các bộ mắt gió tại lò cao trong Nhà máy bán. V đồng ý và báo lại với S1. Sáng nói với H3, V lấy trộm tài sản rồi mang ra đến hàng rào gần cổng nhà máy, S1 sẽ tháo ốc vít mở hàng rào rồi lấy bộ mắt gió mang đi bán. Sau khi thống nhất với nhau, đến ca trực vào buổi tối, lợi dụng không có ai để ý, H3 và V đi đến vị trí khu vực lò cao, nơi để các bộ mắt gió, dùng cây sắt ở gần đó đưa xuyên qua lỗ giữa 01 bộ mắt gió DN80 (mắt gió có hình dạng nón cụt, có lỗ tròn ở giữa xuyên từ đầu đến chân) rồi nâng lên và khiêng đến khu vực đường nội bộ Nhà máy. Sau đó, cả hai để bộ mắt gió lên chiếc xe máy dựng sẵn ở gần đó rồi chở ra đến sát hàng rào. Tại đây, S1 đã đứng chờ sẵn ở bên ngoài hàng rào rồi mang bộ mắt gió trên đưa lên xe máy của S1 đem đi bán ở tiệm thu mua phế liệu của Nguyễn Bá H4 (sinh năm: 1988, Nơi cư trú: thôn X, xã Q, huyện Ứ, thành phố Hà Nội) tại khu phố Ô, phường T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu được 9.000.000 đồng. Sáng mang tiền về chia cho H3, Vững 4.500.000 đồng. Số tiền còn lại Sáng đã tiêu xài cá nhân hết.
Cũng với thủ đoạn tương tự, vào các buổi tối trong tháng 10/2022, S1, H3 và V đã 03 lần trộm cắp thêm 03 bộ mắt gió DN 80 rồi mang đến tiệm phế liệu của Nguyễn Bá H4 bán. Sau đó lấy tiền chia nhau tiêu xài.
Bản kết luận định giá tài sản số 120/KL ngày 16 tháng 01 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã P kết luận: 04 bộ mắt gió DN80 bằng đồng đỏ, mỗi cái nặng 100kg trị giá 121.680.000 đồng.
- Khoảng tháng 2/2023, Ngô Văn S1, Thạch H1 biết Nhà máy thép Pomina 3 đang ngừng hoạt động, việc quản lý tài sản trong nhà máy L1 nên Sáng, H1 đã gặp Nguyễn Văn H bàn bạc về việc cho S1, H1 sử dụng xe máy tay ga có cốp rộng rồi lấy các thỏi gang tại bãi gang trong nhà máy, bỏ vào trong cốp xe và các túi mang ra ngoài bán lấy tiền tiêu xài. H đồng ý và rủ thêm Võ Văn V1 cùng tham gia. Sau đó, H và S1 đã trực tiếp gặp Vũ Ngọc Minh C1; Nguyễn Văn T và Phạm Văn D1 là nhân viên giám sát của nhà máy cùng tham gia trộm cắp gang lấy tiền chia nhau tiêu xài. Cả ba đều đồng ý. H thỏa thuận với H1, V1 mỗi chuyến vào trong bãi gang lấy trộm tài sản thì phải đưa cho H số tiền là 300.000 đồng, trong đó H sẽ đưa cho bộ phận giám sát (là D1 hoặc C1, T, ca trực của ai sẽ đưa cho người đó) số tiền 200.000 đồng, còn H sẽ hưởng 100.000 đồng. Riêng S1 đã thỏa thuận với H mỗi chuyến lấy trộm được sẽ đưa riêng cho H 100.000 đồng và thỏa thuận đưa cho C1, D1, T (tùy vào ca trực của mỗi người) mỗi chuyến 100.000 đồng/người.
Trong các ngày 24/02/2023 đến ngày 05/03/2023 Ngô Văn S1 đã sử dụng loại xe Honde Lead (chưa rõ biển số), Thạch H1 sử dụng xe loại Attila (chưa rõ biển số), Võ Văn V1 sử dụng xe mô tô nhãn hiệu SYM Atila, BKS 60C1 – 218.79 lấy trộm gang trong Nhà máy, mang ra ngoài bán. Khi đi qua khu vực cổng của Nhà máy thì được Lê Nguyễn Quốc B (Bảo vệ trực cổng tại Nhà máy) mở cửa cho S1, H1 và V1 đi ra. Cụ thể như sau:
- - Đối với Ngô Văn S1:
- + Từ đêm ngày 24/02/2023 đến rạng sáng ngày 25/2/2023, Sáng lấy trộm được 06 chuyến, mỗi chuyến 92 kg, tổng cộng là 552kg, mang ra ngoài bán cho Nguyễn Thị C 460kg (05 chuyến) và bán cho Nguyễn Bá H4 92kg (1 chuyến) được tổng số tiền là 4.416.000 đồng. Sau đó, S1 chia cho H4 600.000 đồng, chia cho D1 500.000 đồng, số tiền còn lại Sáng tiêu xài cá nhân hết.
- + Từ đêm ngày 27/02/2023 đến rạng sáng ngày 28/2/2023, S1 tiếp tục lấy trộm được 06 chuyến, mỗi chuyến 92 kg, tổng cộng là 552kg, mang ra ngoài bán cho Chuyển 460kg (05 chuyến) và bán cho Nguyễn Bá H4 92kg (1 chuyến) được tổng số tiền là 4.416.000 đồng. Sau đó, S1 chia cho H4 600.000 đồng, chia cho C1 và T mỗi người 600.000 đồng, số tiền còn lại Sáng tiêu xài cá nhân hết.
- + Từ đêm ngày 28/2/2023 đến rạng sáng ngày 01/3/2023, S1 tiếp tục lấy trộm được 06 chuyến, mỗi chuyến 92 kg, tổng cộng là 552kg, mang ra ngoài bán cho Chuyển 460kg (05 chuyến) và bán cho Nguyễn Bá H4 92kg (1 chuyến) được tổng số tiền là 4.416.000 đồng. Sau đó, S1 chia cho H4 600.000 đồng, chia cho D1 500.000 đồng, số tiền còn lại Sáng tiêu xài cá nhân hết.
- + Từ đêm ngày 03/3/2023 rạng sáng ngày 04/3/2023, Sáng lấy trộm được 10 chuyến, mỗi chuyến 92 kg, tổng cộng là 920kg mang ra ngoài bán cho Chuyển 460kg (5 chuyến) và bán cho Nguyễn Bá H4 460kg (5 chuyến) được tổng số tiền là 7.360.000 đồng. Sau đó, S1 chia cho H4 1.000.000 đồng, chia cho C1 và T mỗi người 1.000.000 đồng, số tiền còn lại Sáng đã tiêu xài cá nhân hết.
- + Từ đêm ngày 04/3/2023 đến rạng sáng ngày 05/3/2023, Sáng lấy trộm được 05 chuyến, mỗi chuyến 92 kg, tổng cộng là 460kg mang ra ngoài bán cho C được tổng số tiền là 3.680.000 đồng. Sau đó, S1 chia cho H4 500.000 đồng, chia cho D1 200.000 đồng, số tiền còn lại Sáng tiêu xài cá nhân hết.
- - Đối với Thạch Hòa:
- + Từ đêm 24/02/2023 đến rạng sáng ngày 25/2/2023, H1 lấy trộm được 5 chuyến, mỗi chuyến 81kg, tổng cộng là 405kg gang rồi mang ra ngoài bán cho hai người thu mua phế liệu (chưa rõ nhân thân, lai lịch) được số tiền 2.632.500 đồng. Sau đó, H1 chia cho H4 số tiền 1.200.000 đồng, H4 nhận tiền rồi chia lại cho Phạm Đức D số tiền 700.000 đồng. Số tiền còn lại H1 tiêu xài cá nhân hết.
- + Từ đêm 27/02/2023 đến rạng sáng ngày 28/2/2023, H1 lấy trộm được 7 chuyến, mỗi chuyến 81kg, tổng cộng là 567kg gang rồi mang ra ngoài bán được số tiền 3.685.500 đồng. Sau đó, H1 chia cho H4 số tiền 2.000.000 đồng, H4 chia lại cho C1 và T số tiền 1.400.000 đồng. Số tiền còn lại H1 tiêu xài cá nhân hết.
- + Từ đêm 28/02/2023 đến rạng sáng ngày 01/3/2023, H1 lấy trộm được 6 chuyến, mỗi chuyến 81kg tổng cộng là 486kg gang rồi mang ra ngoài bán được số tiền 3.159.000 đồng. H1 chia cho H4 số tiền 1.800.000 đồng, H4 chia lại cho D số tiền 1.300.000 đồng. Số tiền còn lại H1 tiêu xài cá nhân hết.
- + Từ đêm 03/3/2023 đến rạng sáng ngày 04/3/2023, H1 lấy trộm được 6 chuyến, mỗi chuyến được 81kg, tổng cộng là 486kg gang rồi đưa ra ngoài bán được số tiền 3.159.000 đồng. Sau đó, H1 chia cho H4 1.000.000 đồng (cộng với số tiền 1.000.000 đồng mà S1 đã đưa) nên H4 chia lại cho C1 và T số tiền 1.200.000 đồng. Số tiền còn lại H1 tiêu xài cá nhân hết.
- + Từ đêm 04/3/2023 đến rạng sáng ngày 05/3/2023, H1 lấy trộm được 8 chuyến, mỗi chuyến 81kg tổng cộng là 648kg gang rồi mang ra ngoài bán được số tiền 4.212.000 đồng. Sau đó, H1 chia cho H4 số tiền 1.200.000 đồng, H4 chia lại cho D số tiền 800.000 đồng. Số tiền còn lại H1 tiêu xài cá nhân hết.
- - Đối với Võ Văn V1:
Khoảng 02 giờ sáng ngày 05/3/2023, V1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SYM Atila, màu đen biển số: 60C1-218.79 đến bãi gang trong Nhà máy để trộm cắp tài sản. V1 lấy các cục gang bỏ đầy vào cốp xe và bỏ thêm vào một cái giỏ xách bằng vải để ở chỗ gác chân của xe. Sau đó, V1 04 lần theo Sáng mang số tài sản trên đến bán cho Nguyễn Thị C 402kg gang (03 lần đầu được 360kg/lần, lần thứ 04 do giỏ xách bị rách nên V1 chỉ lấy được 42kg gang bỏ trong cốp xe) được số tiền 4.200.000 đồng. Sau đó, V1 đưa cho H4 900.000 đồng, H4 lấy tiền đó chia cho D, số tiền còn lại V1 đã tiêu xài cá nhân hết.
Như vậy: Trong khoảng thời gian từ ngày 24/02/2023 đến ngày 05/3/2023, S1 đã lấy trộm 3.036kg, H4 đã lấy trộm 6.030kg, H1 đã lấy trộm 2.592kg, D đã lấy trộm 3.505kg, C1 và T đã lấy trộm 2.525kg, V1 đã lấy trộm 402kg gang của Nhà máy T2.
Nguyễn Thị C biết rõ số gang mà S1 và V1 mang đến bán là tài sản do trộm cắp mà có nhưng vẫn đồng ý mua để bán lại kiếm lời.
Bản kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân thị xã P số 135/KL ngày 21 tháng 3 năm 2023 kết luận: 2000kg gang thỏi, sản xuất vào năm 2022, tại thời điểm ngày 05/3/2023 tài sản có giá trị là: 2000kg x 13.000₫ x 88% = 22.880.000₫ (Hai mươi hai triệu, tám trăm tám mươi ngàn đồng).
Quá trình điều tra, Ngô Văn S1, Nguyễn Văn H, Lê Tiến H3, Lê Ngọc V, T, Võ Văn V1, Phạm Đức D, Vũ Ngọc Minh C1, Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
- * Về vật chứng:
- * Về trách nhiệm dân sự:
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Atila, màu đen, BKS 60C1-218.79 thu giữ của Võ Văn V1 và số tiền 100.000 đồng do Lê Nguyễn Quốc B giao nộp, hiện đã được chuyển sang Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ bảo quản, chờ xử lý.
Đối với số gang và 04 bộ mắt gió DN 80 bằng đồng đỏ mà các bị cáo đã chiếm đoạt, hiện không thu giữ được.
Gia đình Phạm Đức D, Nguyễn Văn T, Vũ Ngọc Minh C1 đã bồi thường cho Nhà máy T2 3 số tiền 9.000.000 đồng (mỗi gia đình số tiền 3.000.000 đồng). Gia đình Lê Tiến H3, Lê Ngọc V đã bồi thường cho Nhà máy T2 3 số tiền 80.000.000 đồng (mỗi gia đình 40.000.00 đồng).
Ông Đinh Thế L, đại diện theo ủy quyền của Nhà máy T2 đã nhận tiền, không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho D, C1, T, H3 và V. Đồng thời, ông L yêu cầu S1, V1, H, H1 bồi thường theo quy định của pháp luật.
- Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 63/2024/HS-ST ngày 24 tháng 4 năm 2024, Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã quyết định: Tuyên bố các bị cáo Ngô Văn S1, Nguyễn Văn H, Lê Tiến H3, Lê Ngọc V, Phạm Đức D, Vũ Ngọc Minh C1, Nguyễn Văn T, T, Võ Văn V1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”; bị cáo Nguyễn Thị C phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, điểm g khoản 1 Điều 52, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Văn H 03 (Ba) năm tù, tính từ ngày 06/4/2023; áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt Thạch Hòa 02 (Hai) năm tù, tính từ ngày 25/10/2023; áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Thị C 01 (Một) năm tù, tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên phạt các bị cáo khác, về trách nhiệm dân sự, án phí, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo theo luật định.
- Ngày 30/4/2024, các bị cáo Nguyễn Văn H, Thạch H1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
- Ngày 03/5/2024, bị cáo Nguyễn Thị C kháng cáo xin hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm xét xử vụ án:
Về tố tụng: Các bị cáo làm và gửi đơn kháng cáo trong thời hạn quy định nên xem xét theo trình tự thủ tục phúc thẩm. Bị cáo Nguyễn Văn H tự nguyện rút yêu cầu kháng cáo tại phiên toà phúc thẩm, nên đề nghị Hội đồng xét xử quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo này, và tiến hành xét xử phúc thẩm đối với các bị cáo còn lại.
Về nội dung: Toà án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo Thạch H1 phạm tội Trộm cắp tài sản, xử phạt bị cáo 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị C phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, xử phạt bị cáo 01 (một) năm tù là phù hợp với tính chất mức độ hành vi của bị cáo, tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo không cung cấp thêm tình tiết, chứng cứ gì mới. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Các bị cáo không tranh luận với đại diện Viện Kiểm sát, nói lời sau cùng thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Thạch H1, và cho bị cáo Nguyễn Thị C2 hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
Kháng cáo của các bị cáo làm trong thời hạn luật định. Do vậy, kháng cáo của các bị cáo là hợp lệ, được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Bị cáo Nguyễn Văn H tự nguyện rút yêu cầu kháng cáo tại phiên toà phúc thẩm, nên Hội đồng xét xử quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo này, và tiến hành xét xử phúc thẩm đối với các bị cáo còn lại.
- Về tội danh và Điều luật áp dụng:
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm và lời khai trong quá trình điều tra cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Từ đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận:
Từ tháng 10/2022 đến ngày 05/03/2023 tại Nhà máy luyện phôi thép - Công ty cổ phần T1, khu công nghiệp P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Ngô Văn S1, Nguyễn Văn H, Lê Tiến H3, Lê Ngọc V, Phạm Đức D, Vũ Ngọc Minh C1, Nguyễn Văn T, T, Võ Văn V1 đã nhiều lần trộm tài sản của Nhà máy luyện phôi thép. Cụ thể như sau:
- Khoảng tháng 10/2022, Ngô Văn S1, Lê Tiến H3, Lê Ngọc V đã 04 lần trộm 04 bộ mắt gió DN80 bằng đồng đỏ, mỗi cái nặng 100kg trị giá 121.680.000 đồng.
- Từ ngày 24/02/2023 đến ngày 05/03/2023, Ngô Văn S1 đã trộm 3.036 kg gang trị giá 34.731.840 đồng; Nguyễn Văn H đã trộm 6.030kg gang trị giá 68.983.200 đồng; Phạm Đức D đã trộm 3.505kg gang trị giá 40.097.200 đồng; Vũ Ngọc Minh C1 và Nguyễn Văn T đã trộm 2.525kg gang trị giá 28.886.000 đồng; Thạch Hòa đã trộm 2.592kg gang trị giá 29.652.480 đồng; Võ Văn V1 đã trộm 402 kg gang trị giá 4.598.880 đồng.
Tổng giá trị tài sản Ngô Văn S1 đã chiếm đoạt là 156.411.840 đồng; Lê Ngọc V và Lê Tiến H3 đã chiếm đoạt là 121.680.000 đồng; Nguyễn Văn H đã chiếm đoạt là 68.983.200 đồng; Phạm Đức D đã chiếm đoạt là 40.097.200 đồng; Vũ Ngọc Minh C1 và Nguyễn Văn T đã chiếm đoạt là 28.886.000 đồng; Thạch H1 đã chiếm đoạt là 29.652.480 đồng; Võ Văn V1 đã chiếm đoạt là 4.598.880 đồng.
Nguyễn Thị C biết rõ số gang do Ngô Văn S1 và Võ Văn V1 mang đến bán là tài sản do trộm cắp mà có nhưng vẫn đồng ý mua tổng cộng 2.744 kg gang trị giá 31.391.360 đồng, để bán lại kiếm lời.
Toà án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Thạch H1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị C về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
- Xét kháng cáo của các bị cáo:
- [3.1]. Kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Thạch H1:
- [3.1]. Kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Thị C:
Bị cáo Thạch H1 là người khởi xướng, rủ rê bị cáo Nguyễn Văn H trộm cắp tài sản, nhiều lần trực tiếp vào bãi gang lấy cắp tài sản.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, ảnh hưởng đến môi trường đầu tư, sản xuất và kinh doanh. Toà án cấp sơ thẩm áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ, xử phạt bị cáo 02 (Hai) năm tù là đã xem xét, đánh giá đúng tính chất, vai trò, mức độ nguy hiểm trong hành vi phạm tội của bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không bổ sung tình tiết nào mới làm căn cứ xem xét cho kháng cáo của bị cáo. Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm là có cơ sở nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo về việc xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.
Bị cáo Nguyễn Thị C không hứa hẹn trước, nhưng vì tham lam, hám lợi, mặc dù biết rõ tài sản do Ngô Văn S1, Võ Văn V1 đem bán có nguồn gốc do trộm cắp mà có, nhưng vẫn nhiều lần mua tài sản của các bị cáo trộm cắp mà có. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự an toàn xã hội, tiếp tay cho các bị cáo khác nhiều lần xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, ảnh hưởng đến môi trường đầu tư, hoạt động sản xuất và kinh doanh của khu công nghiệp. Toà án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 01 (Một) năm tù là đã xem xét, đánh giá đúng tính chất, vai trò, mức độ nguy hiểm trong hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo chỉ có 2 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện giao nộp số tiền thu lợi bất chính), nhưng có một tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự (phạm tội từ 2 lần trở lên). Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không bổ sung tình tiết nào mới làm căn cứ xem xét cho kháng cáo của các bị cáo, nên không đủ số tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự làm căn cứ khi quyết định cho hưởng án treo. Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm là có cơ sở, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo về việc xin hưởng án treo của bị cáo.
- Do kháng cáo không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
- Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 342, Điều 348, điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Nguyễn Văn H.
- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Thạch H1, Nguyễn Thị C, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm số 63/2024/HS-ST ngày 24 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Thạch H1 02 (Hai) năm tù, tính từ ngày 25/10/2023.
- Áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Thị C 01 (Một) năm tù, tính từ ngày bắt thi hành án.
- Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm số 63/2024/HS-ST ngày 24 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Án phí hình sự phúc thẩm:
- Bị cáo Nguyễn Văn H không phải nộp.
- Các bị cáo Thạch H1, Nguyễn Thị C nộp mỗi người 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (03/7/2024).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Bắc |
Bản án số 79/2024/HSPT ngày 03/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 79/2024/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 03/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn H 173
