Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN XUÂN LỘC

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2024/HS-ST

Ngày: 17 - 4 -2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Hồ Thị Sương

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Hiếu
  2. Bà Huỳnh Thị Mỹ Trang

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Phương Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 44/2024/TLST - HS ngày 07 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2024/HSST-QĐ ngày 27/3/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Họ và tên: Lê Văn L; Tên gọi khác: Không. Sinh năm 1992, tại Đồng Nai. Nơi cư trú: ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Tại phiên tòa bị cáo xác định làm nghề tự do. Con ông Lê Văn H, sinh năm 1947 và bà Lê Thị M, sinh năm 1954. Vợ: Nguyễn Thị Trúc Q (đã ly hôn). Con: Có 01 người con, sinh năm 2018 (sống với mẹ). Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 26/7/2006, bị Ủy ban nhân dân huyện X, tỉnh Đồng Nai đưa vào Trường G theo Quyết định số 2065/QĐ-UB ngày 19/7/2006 về hành vi “Trộm cắp tài sản” với thời hạn 24 tháng (chấp hành xong ngày 04/02/2008).

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/11/2023 cho đến nay.

(bị cáo có mặt tại phiên tòa)

- Người bị hại: Bà Trần Thị Thúy P, sinh năm 1979. (Vắng mặt)

Nơi cư trú: ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Công T, sinh năm: 1985. (Vắng mặt)

Nơi cư trú: ấp C, xã B, huyện X, tỉnh Đồng Nai

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 11 giờ ngày 18 tháng 07 năm 2023, Lê Văn L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Visson, màu đỏ, không rõ biển số đến quán C tại ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai của chị Trần Thị Thúy P để kiểm tra hệ thống camera. Sau khi kiểm tra, L nói với chị P là hệ thống camera bị hư, hẹn ngày mai sẽ đem đồ nghề đến để sửa thì chị P đồng ý và mời L ăn cơm. Sau khi ăn cơm xong, L nói với chị P: “Chị cho em mượn điện thoại để truy cập vào ứng dụng camera để kiểm tra” thì chị P đồng ý và đưa điện thoại nhãn hiệu Apple Iphone 11 màu tím, loại 64GB cho L và L nói chị P cho biết mật khẩu màn hình và Icloud của điện thoại để L đăng nhập vào ứng dụng camera để kiểm tra thì chị P đã cung cấp mật khẩu màn hình và Icloud điện thoại của chị P cho L. Sau khi mượn được điện thoại của chị P, do L bị gọi điện hối thúc trả nợ nên L đã nảy sinh ý định chiếm đoạt điện thoại của chị P nên nói “Cho em cầm điện thoại để em ra quán cài đặt phần mềm mới xong thì em cầm điện thoại lên nhà làm cho khách rồi em về em trả” thì chị P đồng ý nói “Làm lẹ lẹ về trả cho chị nha”. Sau khi L mượn được điện thoại nhãn hiệu Apple Iphone 11 màu tím, loại 64GB của chị P trên đường đi thì L vào phần cài đặt trong điện thoại của chị P, L cài thêm chế độ ID FACE để xác nhận khuôn mặt của L vào điện thoại. Do chị P cài chế độ đăng nhập vào tài khoản Ngân hàng MB của chị P bằng khuôn mặt nên khi đó thiết bị điện thoại của chị P sẽ tự động đồng bộ khuôn mặt của L khi đăng nhập vào tài khoản Ngân hàng MB của chị P. Sau khi đăng nhập vào tài khoản Ngân hàng MB của chị P thì L phát hiện trong tài khoản của chị P có số tiền là 5.238.000 đồng nên L đã thực hiện việc chuyển tiền từ tài khoản Ngân hàng MB của chị P sang tài khoản Ngân hàng V của L. Khi đó để thực hiện chuyển khoản tiền thành công phải có mã OTP nhưng L không biết mã OTP của chị P nên khi thực hiện việc chuyển khoản, trên hệ thống sẽ tự hỏi SMART OTP hay SMS OTP thì Lang chọn SMS OTP thì tổng đài sẽ tự động gửi mã SMS OTP về điện thoại chị P, sau đó Lang nhập mã SMS OTP giao dịch chuyển khoản sẽ thành công. Sau khi giao dịch thành công khi thoát ra ngoài, hệ thống sẽ hỏi có thay đổi SMART OTP không thì L sẽ chọn “Có” rồi nhập mã SMS OTP do tổng đài gửi về sau thì SMART OTP trên thiết bị của chị P sẽ là mã SMS OTP Lang mới nhập. Khi chuyển tiền lần thứ 2 thì L thực hiện bình thường do L đã đăng nhập được vào tài khoản của chị P và có mật khẩu SMART OTP thì Lang cứ thực hiện việc chuyển khoản bình thường. Vào ngày 18/7/2023, L đã chuyển số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) từ tài khoản Ngân hàng MB của chị P vào tài khoản số 0871004226094 thuộc Ngân hàng V mang tên Le Van L1. Tiếp đó, L1 tiếp tục đem điện thoại di động của chị P đến Cửa hàng mua bán điện thoại di động Tiến Mobile thuộc xã B, huyện X do Nguyễn Công T, sinh năm 1985, Nơi thường trú: ấp C, xã B, huyện X để cầm điện thoại trên với giá 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng). Đến khoảng 08 giờ 30 phút ngày 19/7/2023, L1 tiếp tục đến Cửa hàng mua bán điện thoại di động Tiến Mobile mượn lại điện thoại để tiếp tục chuyển số tiền 238.000 đồng (hai trăm ba mươi tám ngàn đồng) từ tài khoản Ngân hàng MB của chị P vào tài khoản số 0871004226094 thuộc Ngân hàng V mang tên Le Van L1 để tiêu xài và trả nợ.

- Tại Bản kết luận định giá tài sản số 106/KL-HĐĐG ngày 30/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện X kết luận: Giá trị còn lại của 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 11, màu tím, loại 64GB đã qua sử dụng là 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng).

* Vật chứng và Xử lý vật chứng vụ án:

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 11, màu tím, loại 64GB (đã qua sử dụng) là tài sản của chị Trần Thị Thúy P, sinh năm 1979, trú tại ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X đã Quyết định xử lý vật chứng, trả lại tài sản trên cho chị P. Nhận lại tài sản, chị P không có yêu cầu gì thêm về dân sự.

* Trách nhiệm dân sự:

- Đối với số tiền 5.238.000 đồng Lê Văn L chiếm đoạt của chị Trần Thị Thúy P, chị P không yêu cầu gì về mặt dân sự và cam kết không khiếu nại, khiếu kiện đối với Lang vụ việc trên.

- Anh Nguyễn Công T không có yêu cầu gì về mặt dân sự và cam kết không khiếu nại, khiếu kiện đối với Lang vụ việc trên.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X, Lê Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

* Tại bản cáo trạng số 47/CT-VKSXL ngày 05 tháng 02 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc truy tố bị cáo Lê Văn L về tội: “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”, theo điểm c khoản 1 Điều 290 Bộ luật Hình sự và tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, theo điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự.

Tại Quyết định sửa đổi cáo trạng số 148/CV-VKSXL ngày 05/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự.

Đối với tội: “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”, việc bị cáo đã thực hiện hành vi chiếm đoạt 02 lần: Lần đầu chuyển số tiền 5.000.000 đồng và lần 2 chuyển số tiền 238.000 đồng. Do đó, hành vi nêu trên của Lê Văn L đã phạm tội theo điểm b khoản 2 Điều 290 Bộ luật Hình sự chứ không phải phạm tội theo điểm c khoản 1 Điều 290 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố. Viện kiểm sát quyết định sửa đổi Cáo trạng số 47/CT-VKSXL ngày 05/02/2024, truy tố bị cáo Lê Văn L về tội: “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”, theo điểm b khoản 2 Điều 290 Bộ luật Hình sự và tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, theo điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự.

- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc phát biểu giữ nguyên quan điểm truy tố theo bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 290; điểm b khoản 1 Điều 175; điểm b, h, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38, Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 16 tháng đến 18 tháng tù về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”,

+ Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 175; điểm b, h, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38, Điều 55 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo 10 tháng đến 12 tháng tù về tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

+ Áp dụng điều 55 Bộ luật hình sự: Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của 2 tội mức án từ 26 tháng đến 36 tháng tù.

- Ý kiến của bị cáo tại phiên tòa: Bị cáo thống nhất với Cáo trạng và thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng mô tả.

Bị cáo nói lời sau cùng: Trong thời gian bị tạm giam bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo được sớm về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra huyện X, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc thực hiện đúng trình tự thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Điều tra viên, Kiểm sát viên thực hiện việc điều tra, thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự đã đảm bảo khách quan đúng quy định của pháp luật

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án, thể hiện:

Vào ngày 18/7/2023 và 19/7/2023, Lê Văn L do không có tiền trả nợ nên đã mượn điện thoại nhãn hiệu Apple Iphone 11 màu tím, loại 64GB của chị Trần Thị Thúy P. Sau khi mượn được điện thoại của chị P, biết mật khẩu và I, L đã truy cập bất hợp pháp vào tài khoản ngân hàng M1 của chị P để chuyển số tiền 5.238.000 đồng từ tài khoản ngân hàng M1 của chị P vào số tài khoản số 0871004226094 của Lê Văn L đăng ký tại ngân hàng V (lần đầu chuyển số tiền 5.000.000 đồng, lần 2 chuyển số tiền 238.000 đồng). Sau đó L đem điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 11, màu tím, loại 64GB (đã qua sử dụng) của chị P đến cầm cho Nguyễn Công T để lấy 4.000.000 đồng. Giá trị điện thoại bị chiếm đoạt là 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng).

Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Lê Văn L đã phạm vào tội: “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”, theo điểm b khoản 2 Điều 290 Bộ luật Hình sự và tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, theo điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự.

[3] Các hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, đồng thời xâm phạm đến chế độ quản lý an ninh mạng. Bản thân bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là sai trái nhưng vì bản tính lười lao động, chỉ muốn hưởng thụ nên vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần áp dụng một mức hình phạt nghiêm, tương xứng với hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; Đã bồi thường, khắc phục một phần thiệt hại tài sản cho bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tài sản đã được thu hồi trả lại cho bị hại (điện thoại di động); Bị hại xin bãi nại cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 11, màu tím, loại 64GB (đã qua sử dụng) là tài sản của chị Trần Thị Thúy P. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X đã Quyết định xử lý vật chứng, trả lại tài sản trên cho chị P là phù hợp quy định pháp luật.

- Đối với số tiền 5.238.000 đồng chiếm đoạt của chị Trần Thị Thúy P, bị cáo đã bồi thường cho chị P được 1.000.000 đồng, số tiền còn lại chị P không yêu cầu về mặt dân sự trong vụ án này và cam kết không khiếu nại, khiếu kiện đối với bị cáo nên không xem xét giải quyết.

- Anh Nguyễn Công T đã nhận lại số tiền 4.000.000đồng từ gia đình bị cáo, không yêu cầu gì thêm về mặt dân sự và cam kết không khiếu nại, khiếu kiện đối với bị cáo nên không xem xét giải quyết.

[7] Về án phí: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội và bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

[8] Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc phù hợp với tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ và nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 290, Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố bị cáo Lê Văn L phạm tội: “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” và tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

1. Về hình phạt:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 290; điểm h, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Lê Văn L: 02 (Hai) năm tù.

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 175; điểm b, h, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Lê Văn L: 07 (Bảy) tháng tù.

Căn cứ khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017): Buộc bị cáo Lê Văn L phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 02 (Hai) năm 07 (Bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/11/2023.

2. Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Lê Văn L phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND Tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND Tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở Tư pháp Tỉnh Đồng Nai;
  • - Công an huyện Xuân Lộc;
  • - VKSND huyện Xuân Lộc;
  • - Chi cục THADS huyện Xuân Lộc;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Hồ sơ thi hành án;
  • - Lưu AV, HS;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Thị Sương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 79/2024/HS-ST ngày 17/04/2024 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai về hình sự (sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản và lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 79/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản và Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mai Văn L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger