Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NGHI LỘC

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

Bản án số: 79/2023/HS-ST

Ngày: 16-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC - TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà: Trần Thị Hồng Vân

Các Hội thẩm nhân dân: Nguyễn Đình Thư và bà Lê Thị Hồng.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Văn Kỳ - Thư ký Toà án nhân dân huyện Nghi Lộc.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc tham gia phiên tòa: Bà Doãn Thị Ánh Tuyết- Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 11 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 73/2023/TLST-HS ngày 20 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Kế Đ; tên gọi khác: Không; sinh ngày 04 tháng 4 năm 1992 tại huyện N, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm B xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Kế T và bà Nguyễn Thị T1; vợ, con: Chưa; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 16/11/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xử phạt 12 tháng tù, về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đã thi hành xong các quyết định của bản án và đã được xóa án tích.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/7/2023 cho đến nay tại Nhà Tạm giữ Công an huyện N, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 14/7/2023, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Nguyễn Kế Đ dùng điện thoại N (không nhớ loại máy, sim số cụ thể) gọi điện cho một người đàn ông tên C (không rõ nhân thân, lý lịch cụ thể) hỏi mua ma túy về sử dụng. Sau đó, Đ đi nhờ xe của một người đi đường không quen biết đến địa điểm C hẹn tại khu vực Nhà thờ Giáo xứ H ở xóm A, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Tại đây, Đ bỏ số tiền 2.800.000 đồng vào vỏ bao thuốc lá rồi để lên khe hở của tường rào cổng Nhà thờ Giáo xứ Hội Y và đi ra khỏi khu vực đó. Khoảng 05 phút sau, C gọi điện cho Đ báo là ma túy để trong bao thuốc lá tại vị trí Đ để tiền trước đó. Đ quay lại vị trí ban đầu lấy 01 bao thuốc lá bên trong chứa 01 túi nilon màu trắng đựng 31 viên nén màu hồng. Đ đưa số ma túy vừa mua được về cất giấu tại lán trại chăn nuôi của ông Nguyễn Kế T (sinh năm 1968) ở xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An (ông T là bố đẻ của Đ và không biết việc làm này của Đ). Tiếp đó, trong các ngày 15 và 16/7/2023, Đ lấy 02 viên ma túy ra sử dụng một mình, số ma túy còn lại cất giấu trong ống tre dưới tấm lợp mái của lán trại chăn nuôi. Đến khoảng 08 giờ 45 phút ngày 17/7/2023, Tổ công tác Công an xã N, huyện N đến kiểm tra, phát hiện, thu giữ bên trong ống tre dưới tấm lợp mái của lán trại chăn nuôi 01 (một) túi nilon màu trắng, bên trong chứa 29 viên nén màu hồng (nghi là chất ma túy). Công an xã N đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng và đưa Nguyễn Kế Đ về trụ sở cơ quan để làm việc, sau đó chuyển giao hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N để điều tra theo thẩm quyền.

Cùng ngày 17/7/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã tiến hành lập Hội đồng mở niêm phong, xác định khối lượng và lấy mẫu giám định đối với số vật chứng thu giữ của Nguyễn Kế Đ, xác định: 29 (hai mươi chín) viên nén màu hồng thu giữ của Đ sau khi loại bỏ bao bì, có tổng khối lượng là 2,66 gam (Hai phẩy sáu mươi sáu gam), đã lấy 01 viên với khối lượng 0,10 gam (không phẩy mười gam) gửi đi giám định. Còn lại 28 viên ma túy có tổng khối lượng 2,56 gam (hai phẩy năm mươi sáu gam) được niêm phong, có đầy đủ chữ ký các thành phần tham gia theo quy định.

Tại Bản kết luận giám định số 796/KL-PC09(Đ2-MT) ngày 21/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận:

"Mẫu viên nén màu hồng thu giữ của Nguyễn Kế Đ gửi tới giám định là ma túy; loại Methamphetamine. Số viên nén màu hồng thu giữ của Nguyễn Kế Đ có tổng khối lượng là 2,66 gam (hai phẩy sáu mươi sáu gam)”

Bản Cáo trạng số 81/CT-VKS-NL ngày 20 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An đã truy tố bị cáo Nguyễn Kế Đ về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Nguyễn Kế Đ mức án từ 30 đến 33 tháng tù, về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo tạm giữ, tạm giam 17/7/2023.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) vỏ phong bì thư niêm phong ban đầu, 01 (một) gói nilon màu trắng chứa 28 viên nén màu hồng có tổng khối lượng 2,56 gam còn lại sau khi lấy mẫu giám định.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nhất trí về tội danh, khung hình phạt, không có tranh luận gì và có lời nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất ân hận, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên Tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội, tội danh và khung hình phạt:

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo khai và thừa nhận hành vi phạm tội của mình như kết luận điều tra và nội dung bản Cáo trạng truy tố, ý kiến luận tội của Đại diện Viện kiểm sát, phù hợp vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập hợp pháp có tại hồ sơ vụ án, đã được xem xét và thẩm tra tại phiên tòa. Do đó có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 08 giờ 45 phút ngày 17/7/2023, tại khu vực lán trại chăn nuôi của gia đình mình ở xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An,Nguyễn Kế Đ đang có hành vi tàng trữ trái phép 2,66 gam (hai phẩy sáu mươi sáu gam) chất ma túy (Methamphetamine) nhằm mục đích để sử dụng thì bị Công an xã N, huyện N phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng là số ma túy nêu trên, sau đó chuyển giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N để giải quyết theo thẩm quyền.

Do đó, có đủ căn cứ để xác định Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc truy tố bị cáo Nguyễn Kế Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội:

Vụ án có tính chất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà N1 về ma túy. Ma túy là chất gây nghiện, gây hậu quả xấu đến tình hình trật tự, trị an, an toàn xã hội và là nguyên nhân làm phát sinh các loại tệ nạn xã hội và một số tội phạm khác. Vì vậy, Nhà nước ta đã và đang ra sức đẩy lùi tệ nạn này. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ ma túy là trái pháp luật, đã từng bị xét xử và chấp hành hình phạt tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, nay đã được xóa án tích, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu sửa, cải tạo, thay đổi bản thân mà vẫn cố tình thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng, điều đó chứng tỏ bị cáo là người có thái độ xem thường pháp luật. Vì vậy, cần có đường lối xử phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi bị cáo thực hiện, việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là thật sự cần thiết mới có tác dụng giáo dục, răn đe đối với bị cáo.

[4]. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Nguyễn Kế Đ là người có nhân thân xấu. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo lao động tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng gì lớn và đang sống phụ thuộc gia đình nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6]. Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra có thu giữ 01 (một) phong bì thư do Công an huyện N phát hành, bên trong có: 01 (một) vỏ phong bì thư niêm phong ban đầu; 01 (một) gói nilon màu trắng chứa 28 viên nén màu hồng có tổng khối lượng 2,56 gam còn lại sau khi lấy mẫu giám định.

Xét thấy: Số ma túy còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành và vỏ bao bì không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự;

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Kế Đ 30 (ba mươi) tháng tù, về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam: 17/7/2023.

    Miễn áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự:
    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì thư do Công an huyện N phát hành, bên trong có 01 (một) vỏ phong bì thư niêm phong ban đầu; 01 (một) gói nilon màu trắng chứa 28 viên nén màu hồng có tổng khối lượng 2,56 gam còn lại sau khi lấy mẫu giám định.

    Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện N và Chi cục THADS huyện N, lập vào ngày 20 tháng 10 năm 2023.

  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Nguyễn Kế Đ phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND huyện Nghi Lộc;
  • - Công an huyện Nghi Lộc;
  • - THA dân sự, THA hình sự;
  • - Lưu hồ sơ./.

T.M/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hồng Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 79/2023/HS-ST ngày 16/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC - TỈNH NGHỆ AN về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 79/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC - TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Kế Đạt tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger