Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THOẠI SƠN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 79/2024/DS-ST

Ngày: 16/7/2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Linh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung và bà Diệp Thị Thu Nguyệt

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Thắng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lam Em – Kiểm sát viên

Ngày 16 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 341/2023/TLST-DS ngày 07 tháng 12 năm 2023, về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2024/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 73A/2024/QĐST-DS ngày 25 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP K

Địa chỉ trụ sở: 4 P, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Ngọc M – Chức vụ: Tổng Giám đốc

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Trung V – Chức vụ: Phó Tổng Giám đốc

(Theo văn bản ủy quyền số 275/QĐ-NHKL ngày 18/01/2023 của Tổng Giám đốc Ngân hàng TMCP K)

Người được ủy quyền lại:

  • + Ông Bùi Vĩnh T – Chuyên viên xử lý nợ khu vực – Phòng xử lý nợ - Ngân hàng TMCP K
  • + Ông Danh T1 - Nhân viên xử lý nợ khu vực – Phòng xử lý nợ - Ngân hàng TMCP K
  • + Ông Trần Thanh V1 - Chuyên viên xử lý nợ khu vực – Phòng xử lý nợ - Ngân hàng TMCP K
  • + Ông Phạm Đông X - Chuyên viên xử lý nợ khu vực – Phòng xử lý nợ - Ngân hàng TMCP K
  • + Ông Nguyễn Khoa H - Chuyên viên xử lý nợ khu vực – Phòng xử lý nợ - Ngân hàng TMCP K

(Theo Quyết định số 510/QĐ-NHKL ngày 23/02/2024 của Ngân hàng TMCP K)

- Bị đơn: Bà Mai Thị T2, sinh năm 1974

Địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện T, tỉnh An Giang

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Văn M1, sinh 1944, Mai Văn H1, sinh 1990, Mai Thị D, sinh 1987, Mai Văn N, sinh 1977, Bùi Kim T3, sinh 1977, Mai Văn N1, sinh 1999, Mai Văn N1 Em, sinh 2002, Mai Văn N2, sinh 1979, Huỳnh Thị Đ, sinh 1975.

Cùng địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện T, tỉnh An Giang

Tại phiên tòa, ông Danh T1 có mặt, các đương sự còn lại vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Mai Thị T2 có đến Ngân hàng TMCP K (gọi tắt là Ngân hàng) vay tổng số tiền 495.000.000 đồng theo Hợp đồng tín dụng từng lần số 1229/21/HĐTD/1200-8671 ngày 10/12/2021, cụ thể:

  • Số tiền vay 495.000.000 đồng;
  • Mục đích vay: Bổ sung vốn mở rộng diện tích sản xuất nông nghiệp;
  • Thời hạn vay: 12 tháng, kể từ ngày nhận tiền đầu tiên;
  • Ngày giải ngân: 10/12/2021;
  • Lãi suất vay: 11,1%/ năm áp dụng đối với các KUNN giải ngân trong vòng 3 tháng kể từ ngày ký HĐTD này. Các KUNN giải ngân sau thời gian này, LSV bằng (=) Lãi suất tiền gửi kỳ hạn 12 tháng, lãnh lãi cuối kỳ của BLS HĐ KHCN tại thời điểm giải ngân công (+) 3,8%/năm và không được thấp hơn LSV tối thiểu hiện hành của biểu lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân (cùng loại hình và phương thức vay). LSV được cố định trong 03 tháng, kể từ ngày giải ngân theo từng KUNN.
  • Lãi suất nợ quá hạn: bằng 150% lãi suất vay tại thời điểm chuyển nợ quá hạn;
  • Mức phạt chậm trả lãi: 10%/năm;
  • Hình thức thanh toán: Lãi trả hàng tháng, gốc trả cuối kỳ;

Hợp đồng thế chấp số 1229/20/HĐTC-BĐS/1200-8671 ngày 12/11/2020 được công chứng tại Văn phòng C, số C L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang ngày 12/11/2020.

Tài sản thế chấp đảm bảo nợ vay gồm:

Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 344906, số vào sổ CS 00820, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp ngày 09/6/2017 (cập nhật thay đổi ngày 10/11/2020), diện tích 2.7756,50m², thửa số 85, tờ bản đồ số 18, mục đích sử dụng đất: đất ở 600m², đất trồng cây lâu năm 2.156,50m², thời hạn sử dụng đất: đất ở: lâu dài; đất trồng cây lâu năm đến 20/9/2055. Tọa lại tại xã V, huyện T, tỉnh An Giang đứng tên bà Mai Thị T2.

Tài sản thế chấp nêu trên đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh T4, tỉnh An Giang ngày 12/11/2020.

Trong quá trình vay vốn, bà Mai Thị T2 liên tục vi phạm hợp đồng, không thanh toán nợ cho Ngân hàng khi đến hạn, Ngân hàng đã nhiều lần thông báo, nhắc nhở nhưng bà Mai Thị T2 không thanh toán nợ theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng cho Ngân hàng và hiện tại hợp đồng đã quá hạn thanh toán nhưng bà Mai Thị T2 vẫn chưa thanh toán dứt nợ cho Ngân hàng theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng đã ký.

Tạm tính đến ngày 10/10/2023, bà Mai Thị T2 còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là 588.839.500 đồng, trong đó nợ gốc là 495.000.000 đồng, lãi trong hạn 15.377.005 đồng, lãi quá hạn 77.054.005 đồng, phạt chậm trả lãi 1.408.490 đồng.

Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà Mai Thị T2 trả cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 10/10/2023 là 588.839.500 đồng và tiếp tục tính tiền lãi phát sinh từ ngày 11/10/2023 trên dư nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán dứt nợ; Duy trì hợp đồng thế chấp số 1292/20/HĐTC-BĐS/1200-8671 ngày 12/11/2020 được ký giữa đại diện Ngân hàng TMCP K – C1 với bà Mai Thị T2. Trường hợp bà Mai Thị T2 không trả hoặc trả không dứt nợ trong thời gian thỏa thuận hoặc khi bản án có hiệu lực thì Ngân hàng K có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để ưu tiên thanh toán nợ cho Ngân hàng K, tài sản bao gồm: Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận QSDĐ số CI 344906, số vào sổ CS 00820 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp ngày 09/6/2017 (cập nhật thay đổi ngày 10/11/2020); diện tích 2.756,50m², thửa số 85, tờ bản đồ số 18; mục đích sử dụng: đất ở 600m², đất trồng cây lâu năm 2.156,50m²; thời hạn sử dụng đất: đất ở: lâu dài, đất trồng cây lâu năm: đến 20/9/2055. Tọa lạc tại xã V, huyện T, tỉnh An Giang, đứng tên bà Mai Thị T2.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là bà Mai Thị T2 trình bày:

Thống nhất với yêu cầu của nguyên đơn về số tiền nợ gốc, lãi và đề xuất phương án trả nợ như sau: Đến cuối tháng 5/2024 trả gốc số tiền 50.000.000 đồng; tiền nợ gốc và lãi còn lại sẽ thanh toán đủ vào cuối tháng 7/2024. Trường hợp không thanh toán đủ sẽ tiếp tục chịu lãi phát sinh trên dư nợ gốc theo lãi suất đã thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng và đồng ý tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp để đã bảo nghĩa vụ trả nợ.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Mai Thị D trình bày: thống nhất với ý kiến của bà Mai Thị T2.

Các đương sự còn lại đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp về việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng đều vắng mặt không lý do và cũng không có văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa,

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu bị đơn có nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và tiền lãi tạm tính đến ngày 16/7/2024 là 660.989.902 đồng, trong đó: nợ gốc là 495.000.000 đồng, phạt chậm trả lại 2.588.096 đồng, lãi trong hạn 15.377.005 đồng, lãi quá hạn 148.024.800 đồng; yêu cầu bị đơn tiếp tục chịu lãi trên nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng và yêu cầu tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp tài sản để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án của bị đơn.

Các đương sự còn lại đều vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi. Bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt lần thứ hai không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ là phù hợp quy định tại Điều 227, 2228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn có nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 16/7/2024 là 660.989.902 đồng, trong đó: nợ gốc là 495.000.000 đồng, phạt chậm trả lại 2.588.096 đồng, lãi trong hạn 15.377.005 đồng, lãi quá hạn 148.024.800 đồng; buộc bị đơn tiếp tục chịu lãi trên nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán dứt nợ và tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp tài sản để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án.

Về án phí và chi phí tố tụng: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu chi phí tố tụng và án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Ngân hàng TMCP K yêu cầu bà Mai Thị T2 thanh toán nợ cho Ngân hàng số tiền nợ gốc và các khoản tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết, bị đơn không có đăng ký kinh doanh nên xác định tranh chấp dân sự và quan hệ tranh chấp là tranh chấp hợp đồng tín dụng. Bị đơn có nơi cư trú tại huyện T, tỉnh An Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Ngân hàng TMCP K do ông Trần Ngọc M chức vụ Tổng Giám đốc là người đại diện theo pháp luật. Ông Trần Ngọc M ủy quyền cho ông Lê Trung V (Theo Quyết định số 275/QĐ-NHKL ngày 18/01/2023). Ông Lê Trung V ủy quyền lại cho các ông: Danh Thảo, Bùi Vĩnh T, Phạm Đông X, Trần Thanh V1, Nguyễn Khoa H (Theo Quyết định số 510/QĐ-NHKL ngày 24/02/2024. Thủ tục ủy quyền trên là phù hợp với quy định tại các Điều 85 và 86 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận việc các ông: Danh Thảo, ông Bùi Vĩnh T, ông Phạm Đông X, ông Trần Thanh V1, ông Nguyễn Khoa H tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và được thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng theo nội dung văn bản ủy quyền.

Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Danh T1 có mặt, các đương sự còn lại đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng đều vắng mặt không lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với họ.

[3] Về nội dung tranh chấp:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp xác định:

Mai Thị T2 đã ký kết Hợp đồng tín dụng với Ngân hàng TMCP K để vay số tiền 495.000.000 đồng. Hợp đồng được thể hiện dưới hình thức văn bản, trong đó thể hiện rõ số tiền vay, thời hạn vay, lãi suất, phương thức thanh toán, quyền và nghĩa vụ của các bên, tuân thủ về phạm vi hoạt động, quy định về lãi suất theo Điều 90, 91 của Luật các tổ chức tín dụng, có ký xác nhận thể hiện sự tự nguyện của các bên, mục đích và nội dung hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Do đó, các hợp đồng tín dụng có hiệu lực theo Điều 117 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Quá trình vay, do bà Mai Thị T2 liên tục vi phạm nghĩa vụ thanh toán, căn cứ Bảng kê tính lãi, tiền phạt và vốn vay tạm tính đến ngày 16/7/2024 thì bà T2 còn nợ Ngân hàng số tiền 660.989.902 đồng, trong đó: nợ gốc là 495.000.000 đồng, phạt chậm trả lại 2.588.096 đồng, lãi trong hạn 15.377.005 đồng, lãi quá hạn 148.024.800 đồng. Quá trình giải quyết vụ án, bà Mai Thị T2 thừa nhận nợ theo yêu cầu của Ngân hàng và đề ra phương án trả nợ, nhưng sau đó lại không thực hiện đúng như cam kết. Từ những chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và thừa nhận của bị đơn có đủ căn cứ xác định bà Mai Thị T2 còn nợ Ngân hàng gốc và lãi chưa thanh toán nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà Mai Thị T2 có nghĩa vụ thanh toán nợ (bao gồm gốc và lãi) tạm tính đến ngày 16/7/2024 là 660.989.902 đồng là có cơ sở chấp nhận. Do bà Mai Thị T2 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên bà T2 còn phải tiếp tục chịu lãi trên nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết cho đến khi thanh toán hết nợ.

Đối với Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1229/20/HĐTC-BĐS/1200-8671 ngày 12/11/2020 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP K – Chi nhánh A với bà Mai Thị T2 thấy rằng: Hợp đồng thể hiện dưới hình thức văn bản, có công chứng và có đăng ký thế chấp theo quy định nên phát sinh hiệu lực.

Do bà Mai Thị T2 vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng tín dụng đã ký kết nên Ngân hàng yêu cầu tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án là có cơ sở. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án.

[4] Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải hoàn lại chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ cho nguyên đơn.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 157, 227, 228, 271, 273, 278 và 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 90, 91, 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ các Điều 117, 319, 323, 357, 463, 466 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng TMCP K. Buộc bị đơn là bà Mai Thị T2 có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP K số tiền nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 16/7/2024 là 660.989.902 (Sáu trăm sáu mươi triệu chín trăm tám mươi chín nghìn chín trăm lẻ hai) đồng, trong đó: nợ gốc là 495.000.000 đồng, phạt chậm trả lại 2.588.096 đồng, lãi trong hạn 15.377.005 đồng, lãi quá hạn 148.024.800 đồng.
  2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 16/7/2024), bà Mai Thị T2 còn phải tiếp tục chịu lãi trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Tiếp tục duy trì Hợp đồng thế chấp số 1229/20/HĐTC-BĐS/1200-8671 ngày 12/11/2020 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP K – Chi nhánh A với bà Mai Thị T2 để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án.

  1. Về chi phí tố tụng: Chi phi xem xét, thẩm định tại chỗ là 1.000.000 (Một triệu) đồng, Ngân hàng TMCP K đã nộp xong. Bà Mai Thị T2 có nghĩa vụ hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP K số tiền 1.000.000 (Một triệu) đồng.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Mai Thị T2 phải chịu 30.439.596 (Ba mươi triệu bốn trăm ba mươi chín nghìn năm trăm chín mươi sáu) đồng. H2 lại cho Ngân hàng TMCP K tiền tạm ứng án phí đã nộp 13.800.000 (Mười ba triệu tám trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013456 ngày 06 tháng 12 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang
  3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • TAND tỉnh An Giang;
  • VKSND huyện Thoại Sơn;
  • THADS huyện Thoại Sơn;
  • Các đương sự;
  • Lưu văn phòng;
  • Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trần Thị Mỹ Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 79/2024/DS-ST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 79/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger