Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 79/2024/HS-ST

Ngày: 16/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khương Minh Trí

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Minh;
  2. Bà Nguyễn Thị Nữ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Phương Huỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Bùi Long Hải - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 09 và 16 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 42/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 02 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 65/2024/HSST-QĐ ngày 09/4/2024 đối với bị cáo:

Trần Văn Đ, sinh năm 1992, tại tỉnh Đồng Tháp; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp A, xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn N và bà Trần Thị L; bị cáo có vợ tên Lê Thị Diễm T và có 01 người con sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 12/12/2023 và tạm giam cho đến nay; có mặt.

Bị hại: Công ty TNHH MTV C; địa chỉ: Số D Đại lộ B, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện theo quỷ quyền của Công ty TNHH MTV C: Bà Thị B, sinh năm 1992; địa chỉ liên hệ: 173/388 đường Đ, Tổ E, Khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Lê Thị Diễm T, sinh năm 1991; địa chỉ: Ấp A, xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; có mặt.

Người làm chứng:

  1. Ông Võ Tấn T1, sinh năm 1996; vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt);
  2. Bà Trần Thị Hồng T2, sinh năm 1998; vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Văn Đ là nhân viên giao hàng của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên C - Chi nhánh B1 (gọi tắt là Công ty C), địa chỉ tại số D, đường Đ, khu phố F, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, theo Hợp đồng lao động số 01-201905-012819-274A03/HĐLĐ ngày 11/5/2019, thời hạn hợp đồng đến hết ngày 10/5/2020. Nhiệm vụ của Được là hàng ngày đến kho hàng của Công ty C tại địa chỉ trên để nhận hàng sau đó đi giao cho khách hàng và thu tiền về nộp lại cho Công ty. Do thời điểm năm 2019, Công ty TNHH MTV C - Chi nhánh B1 vừa mới hoạt động nên chưa có quy chế làm việc, giữa Công ty và nhân viên giao nhận hàng có thỏa thuận miệng với nhau về quy trình làm việc của nhân viên giao hàng như sau: Nhân viên giao hàng vào mỗi buổi sáng hàng ngày đến kho của Công ty để nhận hàng, đi giao hàng cho khách hàng vào cuối mỗi buổi chiều mang tiền về cho Công ty theo thỏa thuận giữa nhân viên giao hàng và nhân viên thu tiền của Công ty. Việc giao tiền về cho Công ty vào cuối buổi chiều mỗi ngày là không bắt buộc. Ngoài ra, trong trường hợp chưa giao hết hàng trong ngày cho khách hàng thì ngày hôm sau khi giao hết các đơn hàng sẽ giao toàn bộ tiền về cho Công ty. Vào sáng ngày 08/11/2019, Được đến Công ty C gặp anh Võ Tấn T1 (là nhân viên kho của Công ty C) để nhận hàng đi giao cho khách và Được đã nhận số hàng với tổng số tiền đơn hàng là 11.691.639 (mười một triệu sáu trăm chín mươi mốt nghìn sáu trăm ba mươi chín) đồng rồi sau đó Đ đi giao cho khách theo từng địa chỉ ghi trên đơn hàng. Tuy nhiên, trong ngày 08/11/2019 còn khoảng 06 – 07 đơn hàng khách hàng không có ở nhà để nhận hàng nên Được chưa giao cho khách, vì vậy Được chưa mang tiền của tổng số tiền đơn hàng ngày 08/11/2019 về nộp lại cho Công ty C. Đến sáng ngày 09/11/2019, Đ tiếp tục đến Công ty C nhận số đơn hàng với tổng số tiền là 16.681.941 (mười sáu triệu sáu trăm tám mươi mốt nghìn chín trăm bốn mươi mốt) đồng và đã đi giao hết cho khách. Sau khi giao hết số đơn hàng nhận vào các ngày 08 và 09/11/2019 và nhận được tổng số tiền 28.373.580 (hai mươi tám triệu ba trăm bảy mươi ba nghìn năm trăm tám mươi) đồng thì Đ nảy sinh ý định chiếm đoạt số tiền trên để trả nợ và tiêu xài cá nhân nên đã bỏ đi khỏi nơi cư trú và không đến Công ty C làm việc. Đến ngày 04/12/2019, sau nhiều lần liên lạc với Đ nhưng không thành nên đại diện theo ủy quyền của Công ty C là chị Lê Thị Cẩm T3, sinh năm 1994, cư trú tại khu phố T, phường T, thị xã (nay là thành phố ) D, tỉnh Bình Dương đến Công an phường H trình báo vụ việc và có Đơn tố cáo Trần Văn Đ về hành vi chiếm đoạt tài sản. Sau đó, vụ việc được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T để thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền.

Đối với Trần Văn Đ, sau khi chiếm đoạt số tiền 28.373.580 (hai mươi tám triệu ba trăm bảy mươi ba nghìn năm trăm tám mươi) đồng của Công ty C thì Đ đã bỏ trốn đến làm công nhân và sinh sống trên địa bàn xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương. Đến ngày 12/12/2023, Được đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T để xin đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Về trách nhiệm dân sự: Ngày 11/01/2024, chị Lê Thị Diễm T, sinh năm 1991, thường trú tại ấp A, xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp (là vợ của Trần Văn Đ) đã thay Được bồi thường số tiền 28.374.000 (hai mươi tám triệu ba trăm bảy mươi bốn nghìn) đồng cho đại diện theo ủy quyền của Công ty C là chị Thị B và chị B có Đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Trần Văn Đ.

Cáo trạng số 59/CT-VKSTDM ngày 22/02/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Trần Văn Đ về tội “Tham ô tài sản” quy định khoản 1 Điều 353 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như nội dung cáo trạng. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo gồm: Bị cáo tác động người thân trong gia đình bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả; Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo; bị cáo đầu thú, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 353; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn Đ mức hình phạt từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù; Về trách nhiệm dân sự: Không; Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Không.

Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Lê Thị Diễm T trình bày: Bà T là vợ của bị cáo Đ, trong quá trình điều tra thì bị cáo Đ có tác động, nhờ bà T bồi thường thiệt hại cho Công ty TNHH MTV C số tiền 28.374.000 (hai mươi tám triệu ba trăm bảy mươi bốn nghìn) đồng thay cho bị cáo. Bà T không yêu cầu bị cáo Đ phải hoàn trả lại cho bà số tiền nêu trên. Bà T không có ý kiến gì tranh luận với đại diện Viện Kiểm sát.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với đại diện Viện Kiểm sát. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can, lời khai bị hại và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào các ngày 08 và 09/11/2019, với nhiệm vụ là nhân viên giao hàng của Công ty TNHH MTV C - Chi nhánh B1, sau khi nhận được số hàng hóa với tổng số tiền là 28.373.580 (hai mươi tám triệu ba trăm bảy mươi ba nghìn năm trăm tám mươi) đồng từ nhân viên kho của Công ty C tại địa chỉ số D, đường Đ, khu phố F, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, bị cáo Trần Văn Đ đã đi giao cho các khách hàng theo địa chỉ từng đơn hàng và thu đủ số tiền nêu trên nhưng bị cáo Đ không giao nộp lại cho Công ty C mà chiếm đoạt số tiền trên để tiêu xài cá nhân hết rồi bỏ trốn. Hành vi phạm tội của bị cáo đủ các yếu tố cấu thành tội “Tham ô tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 353 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm hoạt động đúng đắn và quyền sở hữu tài sản hợp pháp của Công ty TNHH MTV C, gây mất trật tự an toàn xã hội. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cần xem xét đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo để đưa ra mức hình phạt phù hợp, đảm bảo tính giáo dục đối với bị cáo và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, Nhà nước đối với người phạm tội biết ăn năn, hối cải.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo tác động gia đình bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả cho người bị hại; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo đầu thú là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bà Lê Thị Diễm T là vợ của bị cáo đã thay bị cáo bồi thường toàn bộ số tiền bị cáo đã chiếm đoạt của Công ty TNHH MTV C với số tiền 28.374.000 (hai mươi tám triệu ba trăm bảy mươi bốn nghìn) đồng. Công ty TNHH MTV C không còn yêu cầu gì khác đối với bị cáo. Bà T không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại cho bà T số tiền nêu trên. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[7] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Không.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các 292, 298, 299, 326, 327, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 353; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Trần Văn Đ phạm tội “Tham ô tài sản”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Văn Đ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/12/2023.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Không.
  4. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Không.
  5. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Công an tỉnh Bình Dương (PV06);
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Thủ Dầu Một;
  • - Công an thành phố Thủ Dầu Một;
  • - Chi cục THADS thành phố Thủ Dầu Một;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: HS, Tòa.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Khương Minh Trí

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 79/2024/HS-ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tham ô tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 79/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Đ phạm tội “Tham ô tài sản”.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger