TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU TỈNH TÂY NINH ————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 79/2024/DS-ST
Ngày: 15-5-2024
“V/v tranh chấp Hợp đồng góp hụi”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Chung.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Phạm Tấn Lợi;
- Bà Lý Thị Mỹ Diệu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Hồng Tâm, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Đại Phụng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 15 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 83/2024/TLST-DS ngày 27 tháng 02 năm 2024 về tranh chấp Hợp đồng góp hụi theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1970; địa chỉ: Tổ I, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Bị đơn: Bà Phan Thị M, sinh năm 1974; địa chỉ: Tổ G, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện ngày 15/01/2024 cùng các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị C trình bày:
Từ năm 2021 đến năm 2022, bà có tham gia 01 phần hụi tháng 2.000.000 đồng khui ngày 10/5/2021 âm lịch do bà M làm chủ thảo. Bà đã góp cho bà M được 12.000.000 đồng tiền hụi sống (tính luôn tiền lãi), tiền thực góp là 8.000.000 đồng. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 95/2023/HS-ST ngày 22/12/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh đã buộc bà M bồi thường cho bà 5.315.000 đồng tiền hụi bà M đã chiếm đoạt của bà.
Nay bà xin thay đổi yêu cầu khởi kiện là trừ số tiền 5.315.000 đồng đã buộc bà M trả cho bà theo Bản án hình sự sơ thẩm số 95/2023/HS-ST ngày 22/12/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh thì bà chỉ yêu cầu bà M trả lại cho bà số tiền hụi còn nợ là 2.685.000 đồng, không yêu cầu tính lãi. Ngoài ra, bà không yêu cầu gì khác.
Bị đơn là bà Phan Thị M trình bày:
Bà thừa nhận bà C có tham gia góp hụi với bà như lời trình bày của bà C. Tính đến nay bà còn nợ bà C 2.685.000 đồng hụi sống. Nay bà đồng ý trả lại cho bà C số tiền trên, bà xin được giải quyết, xét xử vắng mặt trong vụ án này. Ngoài ra, bà không yêu cầu gì khác.
Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh đã thụ lý và giải quyết vụ án đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; không xảy ra vi phạm về tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.
- Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 471 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án để xử theo hướng:
+ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà C. Buộc bà M có nghĩa vụ trả lại cho bà C số tiền hụi còn nợ là 2.685.000 đồng; ghi nhận bà C không yêu cầu tính lãi.
+ Bà M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng công khai tại phiên Toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị C là Nguyên đơn và bà Phan Thị M là Bị đơn vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt đối với bà C, bà M.
[2] Về nội dung tranh chấp: Quá trình giải quyết vụ án, bà C yêu cầu bà M trả lại bà số tiền hụi còn nợ là 2.685.000 đồng, không yêu cầu tính lãi. Bà M thừa nhận bà C có tham gia góp hụi với bà, bà còn nợ bà C số tiền hụi trên và đồng ý trả lại cho bà C nhưng xin được giải quyết và xét xử vắng mặt trong vụ án này. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu khởi kiện của bà C là có căn cứ, cần chấp nhận. Buộc bà M có nghĩa vụ trả lại cho bà C số tiền hụi còn nợ là 2.685.000 đồng là phù hợp với quy định tại Điều 471 của Bộ luật Dân sự năm 2015, ghi nhận bà C không yêu cầu tính lãi.
[3] Xét đề nghị của vị Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với những nhận định trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bà M phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Bà C không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho bà C toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 471 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị C đối với bà Phan Thị M về việc tranh chấp Hợp đồng góp hụi.
Buộc bà Phan Thị M có nghĩa vụ trả lại cho bà Nguyễn Thị C số tiền hụi còn nợ là 2.685.000 (hai triệu sáu trăm tám mươi lăm nghìn) đồng; ghi nhận bà Nguyễn Thị C không yêu cầu tính lãi.
Kể từ ngày bà C có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà M không thi hành số tiền trên, thì hàng tháng bà M còn phải trả cho bà C số tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí:
- Bà Phan Thị M phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Bà Nguyễn Thị C không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả cho bà Nguyễn Thị C 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 0005992 ngày 27/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Chung |
Bản án số 79/2024/DS-ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH về tranh chấp hợp đồng góp hụi
- Số bản án: 79/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng góp hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng góp hụi C -M
