|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 79/2024/HSST Ngày 13 - 8 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn An;
Bà Đỗ Thị Kim Thúy;
Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Phương Thao - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Kiều Thị Huệ - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 36/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:
Hoàng Thị Bích N, sinh ngày 05 tháng 8 năm 1975 tại huyện K, tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: Khu A, N, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Kinh doanh; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn B (đã chết) và bà Nguyễn Thị L; có chồng là anh Nguyễn Văn H và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; Bị cáo bị áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. “Có mặt”.
Nguyễn Thị N1, sinh ngày 08 tháng 4 năm 1982 tại huyện C, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: Số H, ngõ F L, phường G, quận B, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tuấn P và bà Nguyễn Thị M; có chồng là anh Nguyễn Thế T (đã ly hôn) và 02 con (con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2020); tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; Bị cáo bị áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. “Có mặt”.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Cục Thuế tỉnh V; địa chỉ: Đường N, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Văn P1 – Cục trưởng “văng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN
1
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Để phục vụ kinh doanh thương mại nhiên liệu rắn, lỏng, khí và các sản phẩm liên quan, Hoàng Thị Bích N đã thành lập, quản lý điều hành 03 công ty gồm:
- Công ty Cổ phần T4, mã số thuế: 2500570851, địa chỉ: số B - B đường M, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (viết tắt là Công ty T4), đăng ký thành lập ngày 08/09/2016, Giám đốc: Nguyễn Văn H1, sinh năm: 1973, hộ khẩu thường trú: phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (chồng của N). Từ ngày 07/02Từ ngày 07/10/2016 đến ngày 24/03/2023, Hoàng Thị Bích N làm Chủ tịch Hội đồng quản trị (HĐQT), người đại diện trước pháp luật thứ nhất của công ty T4, Nguyễn Đăng Q, sinh năm 1994, hộ khẩu thường trú: phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (con trai của N) làm giám đốc, người đại diện trước pháp luật thứ hai của công ty T4.
- Từ ngày 24/03/2023, Nguyễn Đăng Q làm Chủ tịch Hội đồng quản trị, Giám đốc, người đại diện trước pháp luật của công ty T4.
- Công ty Cổ phần T5, mã số thuế: 2500657502, địa chỉ: Số B - B đường M, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (viết tắt là Công ty T5), đăng ký thành lập ngày: 10/12/2020. Từ ngày 10/12/2020 đến ngày 22/03/2023, N làm Chủ tịch Hội đồng quản trị, người đại diện trước pháp luật thứ hai, Nguyễn Thị M1, sinh năm 1994, hộ khẩu thường trú: Phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (vợ của Nguyễn Đăng Q) làm người đại diện trước pháp luật thứ nhất của công ty T5. Từ ngày 22/03/2023 đến nay Nguyễn Thị M1 là Chủ tịch Hội đồng quản trị, Giám đốc, người đại diện trước pháp luật thứ hai của công ty T5.
- Công ty TNHH T4, mã số thuế: 2500681985, địa chỉ: Số B đường M, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (viết tắt là Công ty T4), đăng ký thành lập ngày: 19/04/2022, Giám đốc, người đại diện trước pháp luật: Nguyễn Thị M1 (con dâu Nhuần).
Mặc dù Nguyễn Đăng Q, Nguyễn Thị M1, Hoàng Thị Bích N là giám đốc và người đại diện trước pháp luật của 03 công ty T4, công ty T5 và công ty T4 theo từng thời điểm nhưng mọi hoạt động của 03 công ty trên đều do Hoàng Thị Bích N trực tiếp chỉ đạo, quản lý điều hành, Q và M1 chỉ đứng tên trên danh nghĩa. Con dấu của 3 công ty, chữ ký số của Nguyễn Đăng Q, Nguyễn Thị M1 và tài khoản Ngân hàng của 3 công ty đều do Hoàng Thị Bích N quản lý, sử dụng.
Khoảng giữa năm 2022, 3 công ty do Hoàng Thị Bích N quản lý, chỉ đạo, điều hành mua khoảng 13.726,16 tấn hàng là than cám trôi nổi trên thị trường không có hóa đơn. Để hợp thức hóa đơn đầu vào cho số hàng hóa mua trôi nổi trên thị trường không có hóa đơn, Hoàng Thị Bích N đã nảy sinh ý định mua hóa đơn để kê khai khấu trừ thuế đầu ra, để thực hiện ý định trên, N đã liên hệ với Nguyễn Kim N2, sinh năm 1982, hộ khẩu thường trú: Phường G, quận B, thành phố Hà Nội (là người quen với N) đặt vấn đề nhờ N2 tìm, mua trái phép hóa đơn Giá trị gia tăng (GTGT), N2 đồng ý.
2
Sau đó, thông qua các mối quan hệ bạn bè theo lời khai của N2 thì N2 được giới thiệu liên hệ với người đàn ông tên là T1, sử dụng số điện thoại: 0358.536.xxx, khoảng 45 tuổi (quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch của người này) để mua trái phép hóa đơn GTGT. Khoảng đầu tháng 06/2022, N2 đã liên hệ hẹn gặp T1 ở Hà Nội. Tại đây, T1 giới thiệu đang quản lý, điều hành Công ty TNHH P3 (sau đây viết tắt là Công ty P3), địa chỉ: Phường P, quận B, thành phố Hà Nội, T1 có thể xuất bán trái phép hóa đơn mặt hàng than của công ty P3 cho N2 với giá 1,5% giá trị tiền hàng trước thuế ghi khống trên hóa đơn, N2 đồng ý. Sau đó, N2 đã thỏa thuận bán trái phép hóa đơn cho N với giá 2% giá trị tiền hàng trước thuế ghi trên hóa đơn để hưởng lợi số tiền chênh lệch, đồng thời thống nhất cách thức mua bán hóa đơn cụ thể như sau:
Khi có nhu cầu lấy hóa đơn, N cung cấp các thông tin tên công ty, mã số thuế, địa chỉ, tên người đại diện trước pháp luật, số tài khoản Ngân hàng của Công ty cho N2, N2 cung cấp cho T1 để T1 làm hợp đồng kinh tế giữa 03 công ty của N với Công ty P3. Cụ thể từng lần mua hóa đơn, N sẽ liên hệ với N2 để thông báo khối lượng, đơn giá cần ghi trên hóa đơn, N2 sẽ thông báo lại cho T1 để T1 xuất hóa đơn GTGT ghi khống hàng hóa của Công ty P3. T1 gửi hóa đơn kèm theo biên bản giao nhận hàng hóa, hợp đồng mua bán của Công ty P3 cho N theo địa chỉ: Số B - B đường M, Phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Sau khi nhận được các chứng từ trên, N sử dụng con dấu chữ ký của Q và M1 và dấu tròn của 03 công ty đóng vào Hợp đồng mua bán và biên bản giao nhận hàng hóa với công ty P3.
Với cách thức như trên trong khoảng thời gian từ tháng 6/2022 đến tháng 9/2022, N2 đã mua từ đối tượng T1 12 hóa đơn GTGT ghi khống mặt hàng than cám, than cục của công ty P3 xuất cho 3 công ty do Nhuần quản lý, điều hành, cụ thể như sau:
- 04 hóa đơn của công ty P3 xuất cho công ty T4, khối lượng ghi khống: 3.923,60 tấn, tiền hàng ghi khống trước thuế: 28.034.460.000 đồng, tiền thuế GTGT: 2.803.446.000 đồng, tiền thanh toán: 30.837.906.000 đồng.
- 04 hóa đơn của công ty P3 xuất cho công ty T5, khối lượng ghi khống: 4.268,06 tấn, tiền hàng ghi khống trước thuế: 27.610.140.800 đồng, tiền thuế GTGT: 2.761.014.080 đồng, tiền thanh toán: 30.371.154.880 đồng.
- Bán 04 hóa đơn của công ty P3 xuất cho công ty T4, khối lượng ghi khống: 5.534,50 tấn, tiền hàng ghi khống trước thuế: 24.350.980.000 đồng, tiền thuế GTGT: 2.435.098.000 đồng, tiền thanh toán: 26.786.078.000 đồng.
Tổng khối lượng hàng ghi khống trên 12 hóa đơn là: 13.726,16 tấn, tổng tiền hàng ghi khống trước thuế là 79.995.580.800 đồng, tổng tiền thuế GTGT: 7.999.558.080 đồng, tổng tiền thanh toán: 87.995.138.880 đồng. Nhuần giao Nguyễn Hữu H2, sinh năm 1989, hộ khẩu thường trú: Thị trấn H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc (nhân viên kê khai thuế của 03 công ty do N điều hành) sử dụng 12 hóa đơn của công ty P3 để kê khai thuế.
3
Để hợp thức việc mua bán hóa đơn, N sử dụng máy tính chuyển tiền qua “internet banking” từ tài khoản ngân hàng của Công ty T4, Công ty T5 và Công ty T4 thanh toán tiền cho Công ty P3 hoặc N sử dụng “Giấy nhận nợ” được Q ký từ trước sau đó giao Đỗ Thị V, sinh năm 1993, hộ khẩu thường trú: Thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, kế toán công ty T4 viết thông tin để vay tiền ngân hàng thanh toán tiền cho công ty P3.
Sau khi tiền được chuyển vào tài khoản của công ty P3, tiền từ tài khoản của công ty P3 được chuyển đến tài khoản Ngân hàng của Nguyễn Kim N2, Chu Nữ Diễm H3, sinh năm 1980, hộ khẩu thường trú: Tổ G, phường N, quận C, thành phố Hà Nội và Hoàng Văn T2, sinh năm 1983, hộ khẩu thường trú: Phường L, quận B, thành phố Hà Nội (H3 và T2 là bạn N2 được N2 nhờ nhận hộ tiền qua tài khoản), tài khoản ngân hàng TMCP Q2 (M3) số 0349322251 đứng tên Nguyễn Văn Q1, sinh năm 2003, hộ khẩu thường trú: xã T, huyện T, thành phố Hà Nội và tài khoản ngân hàng TMCP C1 (V3) số: [...] đứng tên Nguyễn Huy T3, sinh năm 2003, hộ khẩu thường trú: Xã T, huyện T, thành phố Hà Nội. Sau đó, H3, T2 chuyển tiền vào tài khoản của Nguyễn Kim N2 hoặc đưa tiền mặt cho N2, đối với các khoản tiền công ty P3 chuyển vào tài khoản ngân hàng đứng tên T3 và Q1 thì sau đó tiền từ các tài khoản này được chuyển tiếp đến tài khoản ngân hàng của N2 (theo như N2 khai thì N2 không biết T3 và Q1 là ai, chỉ biết N2 nhận tiền của T1 từ 02 tài khoản này chuyển đến tài khoản của N2), N2 sử dụng tài khoản ngân hàng của N2 chuyển trả lại tiền cho 03 công ty do Nhuần điều hành thông qua tài khoản ngân hàng của Nguyễn Đăng Q và Nguyễn Thị M1 (N bảo Q và M1 nhận hộ tiền cho N) hoặc N2 chuyển lại tiền mặt cho N. Số tiền bán trái phép hóa đơn theo thỏa thuận, Nhuần thanh toán cho N2 bằng hình thức đưa tiền mặt với tổng số tiền 1.599.911.616 đồng, N2 trả cho T1 số tiền: 1.199.933.712 đồng N2 hưởng lợi số tiền: 399.977.904 đồng .
Ngày 12/12/2023, Giám định viên Cục thuế tỉnh Vĩnh Phúc đã ra Kết luận Giám định xác định:
- Xác định hành vi vi phạm về hóa đơn:
Công ty T4, công ty C2, công ty T4 sử dụng mỗi công ty 04 hóa đơn Công ty T4, công ty T5, công ty T4 sử dụng mỗi công ty 04 hóa đơn GTGT đầu vào do Công ty TNHH P3, MST: 0109962171 cung cấp để hợp thức đầu vào của công ty mua than cám, than cục trên thị trường là hành vi sử dụng không hợp pháp hóa đơn quy định tại điểm đ, khoản 2, Điều 4, Nghị định số 125/2020/NĐ-CP ngày 19 tháng 10 năm 2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn.
Công ty T4, công ty T5, công ty T4 bị xử phạt đối với hành vi sử dụng không hợp pháp hóa đơn theo quy định tại Khoản 1, Điều 28 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP ngày 19 tháng 10 năm 2020 của Chính phủ. Công định.
- Xác định hành vi vi phạm về thuế GTGT:
4
Trường hợp Công ty T4, công ty T5, công ty T4 sử dụng mỗi công ty 04 hóa đơn GTGT đầu vào do Công ty TNHH P3 cung cấp để hợp thức đầu vào là than cám, than cục không có hóa đơn GTGT là hành vi sử dụng không hợp pháp hóa đơn, không đáp ứng điều kiện khấu trừ thuế GTGT theo quy định.
Hành vi sử dụng không hợp pháp hóa đơn để khấu trừ thuế GTGT đầu vào của Công ty T4, công ty T5, công ty T4 được xác định là hành vi trốn thuế theo quy định tại Khoản 4, Điều 123, Luật quản lý thuế số 38/2019/QH14 ngày 13/6/2019 của Quốc Hội; số thuế GTGT trốn của công ty T4 được xác định là 2.803.446.000 đồng; số thuế GTGT trốn của công ty T5 được xác định là: 2.702.738.489 đồng, số thuế GTGT trốn của công ty T4 được xác định là 2.435.098.000 đồng. Tổng số tiền trốn thuế là: 7.941.282.489 đồng.
- Về thuế thu nhập doanh nghiệp:
Chưa đủ cơ sở để xác định số thuế thu nhập doanh nghiệp mà Công ty T4, công ty T5, công ty T4 phải nộp liên quan đến hành vi sử dụng bất hợp pháp hóa đơn của công ty P3.
Kết quả trưng cầu Giám định tài liệu xác định chữ ký đứng tên Giám đốc Nguyễn Văn Q1 và Nguyễn Thị M1 trên hợp đồng mua bán, biên bản giao nhận hàng hóa giữa công ty P3 với Công ty T4, công ty T5 và công ty T4 không phải chữ ký trực tiếp mà do con dấu chữ ký của Q1 và M1 tại công ty đóng ra.
Ngày 24/11/2023, Hoàng Thị Bích N đã chỉ đạo kê khai bổ sung, điều chỉnh giảm thuế GTGT của 03 công ty với tổng số tiền điều chỉnh giảm: 7.999.558.080 đồng tương ứng với tiền thuế giá trị gia tăng của 12 hóa đơn khống nêu trên.
Hoàng Thị Bích N đã nộp số tiền 5.441.282.489 đồng vào ngân sách nhà nước tại Cục thuế tỉnh V và nộp 2.500.000.0000 đồng vào tài khoản tạm giữ của công an tỉnh V để khắc phục số tiền trốn thuế. Nguyễn Kim N2 đã giao nộp số tiền 399.978.000 đồng để khắc phục số tiền thu lợi bất chính từ việc mua bán hóa đơn.
Cơ quan ANĐT đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức chuyển số tiền 2.500.000.000 đồng do Hoàng Thị Bích N giao nộp cho Cục thuế tỉnh V.
Tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại bản Cáo trạng số 45/CT-VKS-P1 ngày 05 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc truy tố bị cáo Hoàng Thị Bích N về tội “Trốn thuế” quy định tại khoản 3 điều 200 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; truy tố bị cáo Nguyễn Kim N2 về tội “Mua bán trái phép hóa đơn” quy định tại điểm đ khoản 2 điều 203 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 3 Điều 200; Điều 35; điểm s, b khoản 1 khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Xử phạt bị cáo Hoàng Thị Bích N 2.800.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng về tội trốn thuế.
5
- Áp dụng khoản đ khoản 2 điều 203; Điều 35; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Kim N2 400.000.000 đồng đến 450.000.000 đồng về tội mua bán trái phép hóa đơn.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Hoàng Thị Bích N, bị cáo Nguyễn Kim N2.
- Về vật chứng của vụ án: Đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 399.978.000 đồng (Ba trăm chín mươi chín triệu chín trăm bảy tám nghìn đồng).
Các bị cáo không có tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an tỉnh V, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo Hoàng Thị Bích N và bị cáo Nguyễn Kim N2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
[3] Xét lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ cũng như lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra; vật chứng thu giữ được cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để kết luận:
Để hợp thức việc mua hàng là 13.726,16 tấn than cám, than cục mua trôi nổi trên thị trường không có hóa đơn, chứng từ, trong khoảng thời gian từ từ tháng 6/2022 đến tháng 9/2022, Hoàng Thị Bích N đã mua từ Nguyễn Kim N2 12 hóa đơn GTGT của công ty P3, ghi khống mặt hàng là than cám, than cục với tổng khối lượng hàng hóa ghi khống trên 12 hóa đơn là: 13.726,16 tấn, tổng tiền hàng ghi khống là 79.995.580.800 đồng, tổng tiền thuế GTGT: 7.999.558.080 đồng, sau đó N đã sử dụng 12 hóa đơn này để kê khai và khấu trừ thuế cho 3 công ty do Nhuần quản lý, điều hành, cụ thể: Công ty T4 04 hóa đơn với khối lượng hàng hóa ghi khống trên hóa đơn là 3.923,60 tấn, tiền hàng 28.034.460.000 đồng, tiền thuế GTGT: 2.803.446.000 đồng; công ty T5 4 hóa đơn với khối lượng hàng hóa ghi khống trên hóa đơn: 4.268,06 tấn, tiền hàng 27.610.140.800 đồng, tiền thuế GTGT: 2.761.014.080 đồng; công ty T4 4 hóa đồngơn với khối lượng hàng hóa ghi khống trên hóa đơn 5.534,50 tấn, tiền hàng: 24.350.980.000 đồng, tiền thuế GTGT: 2.435.098.000 đồng. Kết luận giám định xác định tổng số tiền thuế trốn là
6
7.999.558.080 đồng. Từ việc mua, bán trái phép 12 hóa đơn Nguyễn Kim N2 đã được hưởng lợi số tiền là 399.978.000 đồng.
Hành vi sử dụng 12 hóa đơn bất hợp pháp để kê khai khấu trừ thuế, với số tiền thuế trốn là 7.999.558.080 đồng của Hoàng Thị Bích N đã phạm vào tội “Trốn thuế” quy định tại khoản 3 điều 200 Bộ luật Hình sự.
Hành vi mua bán trái phép 12 hóa đơn với số tiền thu lời bất chính là 399.978.000 đồng của Nguyễn Kim N2 đã phạm vào tội mua bán trái phép hóa đơn quy định tại điểm đ khoản 2 điều 203 Bộ luật Hình sự.
[4] Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương và xâm phạm đến chế độ quản lý thuế của nhà nước, chế độ quản lý hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước, gây thất thu cho ngân sách nhà nước, ảnh hưởng xấu đến tình hình phát triển kinh tế, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Các bị cáo nhận thức được hành vi sử dụng hóa đơn bất hợp pháp để kê khai thuế và hành vi mua bán trái phép hóa đơn là vi phạm pháp luật nhưng do hám lợi nên bất chấp pháp luật cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm các bị cáo trước pháp luật mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
[5] Xét nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo Hoàng Thị Bích N, Nguyễn Kim N2 thấy rằng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, không có tiền án, tiền sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo N đã tự nguyện khắc phục hậu quả, nộp lại toàn bộ số tiền thu lời bất chính và số tiền trốn thuế nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Ngoài ra, bị cáo N được UBND xã T tặng giấy khen vì có những hoạt động từ thiện tại xã T, bị cáo có bố đẻ tham gia kháng chiến, nhiễm chất độc màu da cam, có ông nội được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất và Huy chương kháng chiến hạng nhì, có chú ruột là thương binh hạng 4/4 hiện bị cáo đang nuôi và cấp dưỡng cho chú ruột. Bị cáo N2, đã tự nguyện giao nộp toàn bộ số tiền thu lợi bất chính, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, là lao động chính trong gia đình đã ly hôn hiện đang một mình nuôi 2 con đang ăn học. Do vậy, bị cáo N và N2 được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét thấy trước khi phạm tội, cả hai bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; toàn bộ số tiền thu lợi bất chính từ việc mua bán hóa đơn và số tiền trốn thuế đã được khắc phục; các bị cáo đều được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ mà không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Qua quá trình xác minh tại địa phương và tại phiên tòa các bị cáo khai nhận đều có tài sản riêng, có nghề nghiệp và thu nhập ổn định. Hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc nhóm tội xâm phạm lĩnh vực thuế và tài chính có khung hình phạt chính mà điều luật quy định có thể phạt tiền. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để
7
áp dụng hình phạt chính là phạt tiền đối với các bị cáo cũng đủ giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Điều này cũng phù hợp với quan điểm chung khi xử lý các vụ án về kinh tế trong giai đoạn hiện nay.
[5] Đối với người có liên quan trong vụ án:
- Đối với Nguyễn Đăng Q (Giám đốc, người đại diện trước pháp luật của công ty T4), tuy nhiên Q không quản lý, điều hành hoạt động của công ty mà N chỉ giao cho Q phụ trách mảng bán hàng còn việc quản lý, điều hành công ty và việc mua hàng hóa đầu vào của công ty T4 do Hoàng Thị Bích N (mẹ Q) thực hiện. Q không ký hợp đồng mua bán, biên bản giao nhận hàng hóa với công ty P3, không ký ủy nhiệm chi và không chuyển tiền thanh toán cho công ty P3, không biết N mua trái phép hóa đơn, không biết số tiền N nhờ nhận hộ do N2 chuyển lại là tiền hợp thức mua bán trái phép hóa đơn nên không đủ căn cứ để xử lý đối với Q về hành vi Trốn thuế. Tuy nhiên, hành vi ký “Giấy nhận nợ” khi chưa ghi đủ nội dung của Nguyễn Đăng Q đã vi phạm điểm b, khoản 2, Điều 8, Văn bản số 07/VBHN-BTC ngày 20/04/2022 của Bộ T6 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán độc lập, Cơ quan ANĐT chuyển tài liệu có liên quan đến Thanh tra Sở tài chính tỉnh V để nghị xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Đăng Q theo thẩm quyền.
- Đối với Nguyễn Thị M1 (Giám đốc, người đại diện trước pháp luật của công ty T5 và công ty T4): Tuy là Giám đốc 02 công ty nhưng Nguyễn Thị M1 không trực tiếp quản lý, điều hành hoạt động của công ty mà chỉ được N giao phụ trách mảng bán hàng, còn việc quản lý, điều hành hoạt động của Công ty cũng như phụ trách mảng mua hàng hóa đầu vào của công ty T5 và công ty T4 do Hoàng Thị Bích N (mẹ chồng M1) thực hiện. Mến không ký hợp đồng mua bán, biên bản giao nhận hàng hóa với công ty P3, không ký ủy nhiệm chi và không chuyển tiền thanh toán cho công ty P3, không biết N mua trái phép hóa đơn, không biết số tiền N nhờ nhận hộ do N2 chuyển lại là tiền hợp thức mua bán trái phép hóa đơn nên không đủ căn cứ để xử lý đối với M1 về hành vi trốn thuế với vai trò đồng phạm.
- Đối với Nguyễn Hữu H2 là kế toán kê khai thuế của 03 Công ty do Nhuần điều hành: H2 thực hiện hạch toán, kê khai thuế theo hóa đơn, chứng từ do N cung cấp, H2 không biết trong đó có chứng từ, hóa đơn khống do N mua trái phép nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với H2 là phù hợp.
- Đối với Đỗ Thị V: Vui là kế toán được N phân công viết Giấy nhận nợ thanh toán tiền cho công ty P3. V không tham gia vào việc mua bán hàng hóa của công ty T4, V không biết việc N mua trái phép hóa đơn, không biết việc công ty T4 chuyển tiền thanh toán cho công ty P3 để hợp thức mua bán trái phép hóa đơn nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với V là có căn cứ.
- Đối với Lê Văn P2: Quá trình điều tra xác định Lê Văn P2 không thành lập và không tham gia điều hành hoạt động của Công ty P3, quá trình điều tra không xác định được người sử dụng thông tin chứng minh nhân dân của P2 để đăng ký đứng tên Giám đốc Công ty P3 nên không có căn cứ để xem xét xử lý.
8
- Đối với Chu Nữ Diễm H3 và Hoàng Văn T2: Là bạn của Nguyễn Kim N2, được N2 nhờ nhận hộ tiền qua tài khoản sau đó chuyển lại tiền cho N2, H3 và T2 không biết việc N2 mua bán trái phép hóa đơn, không được hưởng lợi gì sau khi nhận tiền và chuyển tiền giúp N2 nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.
- Đối với Nguyễn Huy T3: Quá trình điều tra T3 khai không đăng ký, sử dụng và giao dịch tài khoản Ngân hàng V3 số [...]. Bản thân T3 bị mất căn cước công dân, quá trình điều tra không xác định được người sử dụng căn cước công dân của T3 để đăng ký mở tài khoản ngân hàng V3 số [...] nên không có căn cứ để xem xét, xử lý.
- Đối với Nguyễn Văn Q1: Quá trình điều tra Q1 khai không đăng ký, sử dụng và giao dịch tài khoản Ngân hàng M3 số 0349322251. Năm 2022, Q1 cho một người đàn ông mượn căn cước công dân để đăng ký mở tài khoản game online, quá trình điều tra không xác định được người sử dụng căn cước công dân của Q1 để đăng ký mở tài khoản ngân hàng M3 số 0349322251 nên không có căn cứ để xem xét, xử lý.
- Đối với đối tượng T1: Nguyễn Kim N2 khai là người của Công ty P3 đã bán hóa đơn cho N2, quá trình điều tra chưa xác định được tên, tuổi, địa chỉ của T1. Đối với số điện thoại 0358.536.xxx T1 sử dụng để liên lạc với Nguyễn Kim N2, qua xác minh xác định số điện thoại này đăng ký chính chủ mang tên: Trịnh Văn M2 sinh năm 1964, hộ khẩu thường trú: xã S, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (từ ngày 30/09/2018 đến ngày 13/06/2023), Dương Thị V1, sinh năm 1991, hộ khẩu thường trú: Xã C, huyện V, tỉnh Yên Bái (từ ngày 13/06/2023 đến nay). Qua làm việc, ông M2 và chị V1 khai nhận: không đăng ký, sử dụng số điện thoại 0358.536.xxx, không biết ai đã sử dụng thông tin cá nhân của ông M2, chị V1 để đăng ký chủ số thuê bao này do vậy, Cơ quan điều tra không có cơ sở để xem xét xử lý.
Đối với công ty T4, công ty T5 và công ty T4 không phải là các pháp nhân thương mại bởi 3 công ty trên không có cơ cấu tổ chức chặt chẽ mà chỉ có Hoàng Thị Bích N chỉ đạo, điều hành mọi hoạt động của 3 công ty, các thành viên của công ty chỉ trên danh nghĩa, lợi nhuận không được chia đều cho các thành viên công ty mà một mình Hoàng Thị Bích N hưởng, do vậy chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với cá nhân Hoàng Thị Bích N.
[6] Đối với tin báo về tội phạm do Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện Đ, Hà Nội chuyển đến.
Ngày 23/11/2023, Cơ quan ANĐT tiếp nhận tin báo về tội phạm do Cơ quan CSĐT- Công an huyện Đ, Hà Nội chuyển đến, nội dung cụ thể:
Công ty Cổ phần C3 (viết tắt là công ty C3), mã số thuế: 0109060864, địa chỉ: xã V, huyện Đ, TP Hà Nội, đăng ký lần đầu ngày 10/01/2020, Giám đốc, người đại diện trước pháp luật: Nguyễn Văn K, sinh năm 1995, địa chỉ: Số nhà G, Ngõ G, thôn P, xã V, huyện Đ, Hà Nội (từ khi thành lập đến ngày 11/8/2022); Nguyễn Xuân V2, sinh năm 1983, địa chỉ: Thôn P, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình Việt Nam (từ ngày 11/8/2022 đến ngày 10/02/2023); Phạm Kim A, sinh năm 1975, địa chỉ:
9
Phường P, quận H, thành phố Hà Nội (từ ngày 10/02/2023 đến nay), ngày 20/4/2023 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động.
Công ty C3 không hoạt động tại địa chỉ đăng ký, có dấu hiệu mua bán trái phép hóa đơn, cụ thể: từ 11/08/2022 đến 03/4/2023, Công ty C3 có xuất 25 hóa đơn GTGT cho 03 công ty T4, Công ty T4 và Công ty T5, mặt hàng: than cám, than cục, khối lượng: 23.434,230 tấn, với tiền hàng trước thuế: 145.674.665.000 đồng, tiền thuế GTGT: 14.567.466.500 đồng, tiền thanh toán ghi trên hóa đơn là: 160.242.131.500 đồng.
- Nguyễn Văn K khai: Tháng 01/2020, K đăng ký thành lập công ty C3 để kinh doanh, tuy nhiên do đại dịch covid 19 bùng phát và diễn biến phức tạp nên công ty không sản xuất, kinh doanh, mua bán hàng hóa. Đến tháng 6/2022, K đã chuyển nhượng công ty Cats V cho một người đàn ông ở Hà Nội sử dụng để tránh phải làm thủ tục và không mất chi phí đóng mã số thuế (quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân người đàn ông này). K đưa giấy tờ thành lập, con dấu của công ty C3 cho người đàn ông sử dụng, từ đó K không ký hợp đồng mua bán, biên bản giao nhận hàng hóa và không liên quan gì đến hoạt động của công ty C3.
- Đối với Nguyễn Xuân V2 khai quá trình điều tra vắng mặt tại địa phương nên Cơ quan điều tra chưa làm việc được.
- Lời khai của Phạm Kim A : Anh bị bắt ngày 16/10/2019 về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, hiện là phạm nhân đang chấp hành án tại Trại giam T7, Phú Thọ. Anh khai nhận không thành lập, quản lý, điều hành và không có liên quan gì đến công ty C3.
- Lời khai của Hoàng Thị Bích N: Khoảng tháng 5/2022, có một người đàn ông tới gặp N tại khu vực kho chứa hàng của 03 công ty do Nhuần điều hành ở ven sông Đ, xã L, huyện T, Hải Phòng, người này giới thiệu tên là Nguyễn Tiến C - nhân viên bán hàng của công ty C3 (quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch của người này). Thông qua C, 03 công ty do N điều hành đã ký hợp đồng mua bán than với công ty C3. Sau khi ký hợp đồng mua bán, C vận chuyển than bằng tàu đến bàn giao cho ông Lưu Thanh D, sinh năm 1977, hộ khẩu thường trú: Xã Đ, huyện K, tỉnh Hải Dương là thủ kho của 03 công ty do N điều hành. Căn cứ khối lượng than giao nhận thực tế, C chuyển hóa đơn GTGT của công ty C4 kèm theo biên bản giao nhận hàng hóa cho N, trên biên bản giao nhận có chữ ký của C dưới mục “đại diện bên giao”, N đưa cho D ký xác nhận dưới mục “đại diện bên nhận” sau đó lưu lại chứng từ. Số lượng hóa đơn, loại hàng hóa, khối lượng, tiền thanh toán ghi trên hóa đơn của công ty C3 xuất cho 03 công ty của N là đúng thực tế.
- Lời khai Lưu Thanh D: Ông D làm thủ kho cho 03 công ty do Nhuần điều hành. Trong quá trình làm thủ kho, ông D nhiều lần đại diện 03 công ty nhận hàng hóa do Nguyễn Tiến C, nhân viên công ty C3 bàn giao với tổng khối lượng than: 23.434,230 tấn.
Hiện chưa xác định được người quản lý, điều hành công ty C3. Cơ quan điều tra chưa xác định được nhân thân lai lịch của đối tượng Nguyễn Tiến C.
10
Công ty T4, Công ty T5 và công ty T4 cung cấp được đầy đủ chứng từ Hợp đồng mua bán than, biên bản giao nhận hàng hóa, chứng từ thanh toán tiền qua ngân hàng cho công ty C3. Thủ kho của 03 công ty xác nhận đã nhận đủ khối lượng hàng hóa tương ứng với khối lượng ghi trên hóa đơn của công ty C3.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong quá trình điều tra như đã nêu trên, chưa đủ cơ sở để kết luận có việc Công ty C3 bán trái phép hóa đơn cho Công ty T4, Công ty T5 và công ty T4 hay không, do vậy cơ quan điều tra không đề cập xử lý trong vụ án là có căn cứ.
[6] Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền thu lợi bất chính của Nguyễn Kim N2 giao nộp là 399.978.000 đồng (Ba trăm chín mươi chín triệu chín trăm bảy tám nghìn đồng).
[7] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[8] Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Hoàng Thị Bích N phạm tội “Trốn thuế”, bị cáo Nguyễn Kim N2 phạm tội “Mua bán trái phép hóa đơn”.
Căn cứ khoản 3 Điều 200; Điều 35; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Phạt tiền bị cáo Hoàng Thị Bích N 2.800.000.000 đồng (Hai tỷ tám trăm triệu đồng).
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 203; Điều 35; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Phạt tiền bị cáo Nguyễn Kim N2 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng).
Về xử lý vật chứng: Áp dụng các Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 399.978.000 đồng (Ba trăm chín mươi chín triệu chín trăm bảy tám nghìn đồng) của Nguyễn Kim N2 là tiền thu lợi bất chính.
Toàn bộ vật chứng (là tiền) nêu trên có đặc điểm như biên bản giao, nhận vật chứng do Cục Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Phúc lập ngày 22 tháng 5 năm 2024.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Hoàng Thị Bích N và bị cáo Nguyễn Kim N2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
11
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hiền |
12
Bản án số 79/2024/HSST ngày 13/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về hình sự sơ thẩm (trốn thuế và mua bán trái phép hóa đơn)
- Số bản án: 79/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trốn thuế và Mua bán trái phép hóa đơn)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Thị Bích N cùng đồng phạm phạm tội trốn thuế, mua bán trái phép hóa đơn
