Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LIÊN CHIỂU, TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2024/HS-ST

Ngày: 13/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Anh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Trần Trúc Mai;

Bà Huỳnh Thị Lệ.

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thái Trâm Anh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Võ Quang Tiến - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 57/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Đỗ Trọng H, sinh ngày 20/5/1977 tại tỉnh Nam Định; Nơi cư trú: Tổ E, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Khắc H1 (chết) và bà Nguyễn Thúy T; có vợ là Lê Thị H2, sinh năm 1984 và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2003, con lớn nhỏ sinh năm 2004.

Tiền án:

  • Ngày 23/6/2008 bị Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xử phạt 42 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 33/2008/HSST cùng ngày;
  • Ngày 08/8/2020 bị Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xử phạt 01 năm 09 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo Bản án sơ thẩm số 97/2020/HSST cùng ngày. Chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 18/10/2021.

Tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 02/3/2020 bị Công an phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý theo quyết định số 130 cùng ngày.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 13/7/2023, tạm giam ngày 22/7/2023. Có mặt.

2. Nguyễn Đức H3, sinh ngày 27/7/1989 tại thành phố Đà Nẵng; Nơi ĐKNKTT: TỔ D, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng; Chổ ở hiện nay: Số A P, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Thợ sơn; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn D và bà Nguyễn Thị B.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 07/11/2012 bị Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xử phạt 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo Bản án sơ thẩm số 146/2012/HSST cùng ngày;

Bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 13/7/2023, tạm giam ngày 22/7/2023. Có mặt.

3. Phan Đức T1, sinh ngày 04/5/1999 tại thành phố Đà Nẵng; Nơi cư trú: Tổ C, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Thanh H4 và bà Cao Thị G; có vợ là Lê Thị Kiều O, sinh năm 1999 và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2019, con lớn nhỏ sinh năm 2022.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 26/4/2017 bị Ủy ban nhân dân phường H, quận C xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 2.000.000 đồng về hành vi xâm phạm sức khoẻ của người khác theo Quyết định số 67 cùng ngày.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 13/7/2023, tạm giam ngày 22/7/2023. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Ngô Văn H5, sinh năm 1989; trú tại: Thôn D, xã B, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

Ông Đàm Duy L, sinh năm 1978; trú tại: Số I B, tổ F, phường C, quận T, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 15 giờ 30 phút ngày 13/7/2023, tại phòng cuối cùng dãy trọ số A đường P, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an quận L phối hợp với Công an phường H tiến hành kiểm tra hành chính, phát hiện và bắt quả tang Đỗ Trọng H, Nguyễn Đức H3, Phan Đức T1 có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Tang vật thu giữ: 01 bình nhựa trên nắp có gắn ống hút và nỏ thuỷ tinh; 01 quẹt gas màu đỏ; 01 ống hút được gọt nhọn một đầu; 01 ví da màu nâu bên trong có số tiền 4.950.000 đồng; 12 gói nylon bên trong chứa tinh thể màu trắng, nghi là ma tuý được niêm phong ký hiệu A; 01 vỏ bao nylon rỗng; 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Đức H3, 01 căn cước công dân mang tên Đỗ Trọng H, 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen gắn sim số đã bị khoá, bị vỡ màn hình của Nguyễn Đức H3, 01 điện thoại di động hiệu VS Mart màu xanh gắn sim số 0708.171.213 và sim số 0796.666.943 của Phan Đức T1; 01 điện thoại di động hiệu Iphone gắn sim số 0905.884.xxx; 01 điện thoại di động hiệu Nokia nắp trượt không lên màn hình của Đỗ Trọng H; 01 cây kéo cán màu đen.

Tiến hành khám xét khẩn cấp tại chỗ ở của Đỗ Trọng H ở địa chỉ: số A V, tổ E, phường T, quận T, thành phố Đ, Cơ quan điều tra đã thu giữ: 09 vỏ bao nylon kích thước khoảng 08x11,5cm; 04 vỏ bao nylon kích thước khoảng 2,5x4,5cm; 04 vỏ bao nylon kích thước khoảng 2,5x01cm; 02 vỏ bao nylon kích thước khoảng 4x3,5cm; 01 nỏ thuỷ tinh; 01 ống hút.

Ngày 21/7/2023, Phòng K Công an thành phố Đ đã ban hành Kết luận giám định số 643 xác định: Tinh thể màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu A gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu A: 2,368 gam.

Quá trình điều tra, từ lời khai nhận của các đối tượng và các tài liệu, chứng cứ thu thập được, đủ cơ sở xác định: Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 13/7/2023, Đỗ Trọng H, Nguyễn Đức H3, Phan Đức T1 và Ngô Văn H5 cùng nhau ngồi uống café tại một quán café trên đường P, thuộc phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Sau khi uống café thì cả nhóm rủ nhau về phòng trọ của H3 ở số A P, phường H, quận L để chơi. Lúc này, H sử dụng điện thoại di động của mình số 0905.884.228 liên lạc với đối tượng tên “T2” (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) qua số điện thoại 0905.616.xxx để mua ma tuý đá với giá 500.000 đồng. Một lúc sau, “T2” đến giao 01 (một) gói ma tuý đá cho H và lấy số tiền 500.000 đồng tiền mặt. Đồng thời, “T2” đưa cho H số tiền 4.950.000 đồng và 12 gói ma tuý đá nhờ H6 giữ dùm để lát nữa “T2” quay lại lấy thì H đồng ý và cất tiền cùng ma tuý vào cái ví của mình. Hiểu đem ma tuý nhận được từ “T2” vào phòng trọ của H3, lúc này trong phòng trọ của H3 có H3, T1, H5 và Đàm Duy L. Hiểu nảy sinh ý định cùng mọi người sử dụng trái phép chất ma tuý nên nói với H3 “Cho anh mượn cái nồi" (tức dụng cụ sử dụng ma tuý) thì H3 liền lấy ở trong phòng ra 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma tuý gồm: 01 bình nhựa trên nắp có gắn ống hút và nỏ thuỷ tinh để ra giữa phòng. Hiểu lấy gói ma tuý đá vừa mua được ném xuống nền nhà. T1 thấy vậy liền lấy cái kéo có cán màu đen ở trên kệ bếp trong phòng trọ của H3 cắt gói ma tuý ra, sau đó dùng ống hút xúc ma tuý đổ vào trong nó thuỷ tinh để mọi người cùng sử dụng. Sau khi chuẩn bị xong thì H là người sử dụng ma tuý trước rồi mọi người lần lượt sử dụng, ai sử dụng thì tự đốt, tự dùng chứ không có ai giúp. Khi cả nhóm đang sử dụng trái phép chất ma tuý thì bị lực lượng công an phát hiện bắt quả tang và thu giữ tang vật như đã nêu ở trên.

Kết quả thử nước tiểu của Đỗ Trọng H7, Nguyễn Đức H3, Phan Đức T1, Ngô Văn H5, Đàm Duy L đều dương tính với chất ma tuý.

Tại bản cáo trạng số 55/CT-VKS ngày 20 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Đỗ Trọng H về các tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm b, h khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự và điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự; truy tố các bị cáo Nguyễn Đức H3, Phan Đức T1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo như Cáo trạng đã đề cập; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đỗ Trọng H phạm các tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; các bị cáo Nguyễn Đức H3, Phan Đức T1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, và đề nghị:

Áp dụng điểm b, h khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Trọng H từ 08 năm đến 09 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Trọng H từ 05 năm đến 06 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Đề nghị Hội đồng xét xử tổng hợp hình phạt của hai tội đối với bị cáo Đỗ Trọng H theo quy định của pháp luật.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H3 từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm 06 tháng tù.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phan Đức T1 từ 07 năm đến 08 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên tịch thu, tiêu hủy đối với: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu A được niêm phong bằng đóng dấu tròn đỏ của Phòng K Công an thành phố Đ đựng mẫu hoàn trả là chất ma tuý còn lại sau khi đã giám định; 01 (một) bình nhựa trên nắp có gắn ống hút và nỏ thuỷ tinh; 01 (một) quẹt ga màu đỏ; 01 ống hút được gọt nhọn một đầu; 01 (một) ví da; 01 (một) vỏ bao nylon rỗng; 01 (một) cây kéo cán màu đen; 09 (chín) vỏ bao nylon kích thước khoảng 08x11,5cm; 04 (bốn) vỏ bao nylon kích thước khoảng 2,5x4,5cm; 04 (bốn) vỏ bao nylon kích thước khoảng 2,5x01cm; 02 (hai) vỏ bao nylon kích thước khoảng 4x3,5cm; 01 (một) nỏ thuỷ tinh; 01 (một) ống hút.

Tuyên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone gắn sim số 0905.884.xxx của bị cáo Đỗ Trọng H.

Tuyên trả lại cho bị cáo Nguyễn Đức H3 01 (một) căn cước công dân mang tên Nguyễn Đức H3 và 01 (một) điện thoại di động hiệu S màu đen gắn sim số đã bị khoá, bị vỡ màn hình. Trả lại cho bị cáo Đỗ Trọng H 01 (một) căn cước công dân mang tên Đỗ Trọng H và 01 điện thoại di động hiệu Nokia nắp trượt không lên màn hình. Trả lại cho bị cáo Phan Đức T1 01 điện thoại di động hiệu VS Mart màu xanh gắn sim số 0708.171.213 và sim số 0796.666.943.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều khai nhận diễn biến vụ án đúng như cáo trạng đã đề cập. Các bị cáo không có ý kiến gì về mặt tội danh cũng như điều luật mà đại diện Viện kiểm sát truy tố và đề nghị áp dụng, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm vấn công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo cũng như những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Căn cứ lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà, căn cứ biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có cơ sở khẳng định:

[2.1] Vào lúc 15 giờ 30 phút ngày 13/7/2023, tại phòng cuối cùng dãy trọ số A đường P, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, Đỗ Trọng H, Nguyễn Đức H3, Phan Đức T1 có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý cho nhau và cho Ngô Văn H5, Đàm Duy L, cụ thể: Đỗ Trọng H liên hệ với đối tượng tên “T2” (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) mua 01 gói ma tuý đá với giá 500.000 đồng. Sau khi có ma tuý, H đem vào phòng trọ của Nguyễn Đức H3, lúc này trong phòng trọ của Nguyễn Đức H3Nguyễn Đức H3, Phan Đức T1, Ngô Văn H5Đàm Duy L. Nguyễn Đức H3 lấy trong phòng trọ của mình 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma tuý gồm: 01 bình nhựa trên nắp có gắn ống hút và nỏ thuỷ tinh đem ra để mọi người sử dụng. T1 dùng 01 cái kéo có cán màu đen cắt gói ma tuý ra, sau đó dùng ống hút xúc ma tuý đổ vào trong nỏ thuỷ tinh để mọi người cùng sử dụng. Khi cả nhóm đang sử dụng trái phép chất ma tuý thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an quận L phối hợp với Công an phường H phát hiện bắt quả tang. Các bị cáo đã cung cấp ma tuý, địa điểm, công cụ để cả nhóm gồm các bị cáo và Ngô Văn H5, Đàm Duy L sử dụng trái phép chất ma tuý. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung là “Đối với 02 người trở lên” theo qui định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Bị cáo Đỗ Trọng H đã tái phạm theo bản án số 97/2020/HSST ngày 08/8/2020 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê nhưng chưa được xoá án tích; nay bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”. Do vậy, Đỗ Trọng H phạm tội với các tình tiết định khung là “Đối với 02 người trở lên” và “Tái phạm nguy hiểm” theo điểm b, h khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.

[2.2] Ngoài ra lúc bị bắt quả tang Đỗ Trọng H còn có hành vi cất giữ trong ví của mình 2,368 gam ma tuý loại Methamphetamine. Hành vi trên của Đỗ Trọng H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm” theo điểm o khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.

[2.3] Cáo trạng số 55/CT-VKS ngày 20 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy: Các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo H đang thờ cúng liệt sĩ Đỗ Đăng N (là bác ruột của bị cáo), bị cáo T1 có bà ngoại là người có công với cách mạng nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội, vai trò, nhân thân của từng bị cáo thì thấy: Đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn. Các bị cáo là những người trưởng thành, nhận thức rõ tác hại của ma túy và biết hành vi sử dụng và tổ chức cho người khác sử dụng các chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên các bị cáo vẫn bất chấp cùng nhau thực hiện việc tổ chức sử dụng ma tuý. Hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây tổn hại đến sức khỏe và làm ảnh hưởng đến trật tự trị an của xã hội. Các bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị Toà án xét xử và bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng không lấy đó làm bài học mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy cần xử các bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của các bị cáo, cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng các bị cáo và phòng ngừa chung. Bị cáo H là người khởi xướng việc tổ chức sử dụng ma tuý, là người cung cấp ma tuý cho những người khác sử dụng nên phải chịu mức hình phạt cao nhất trong số các bị cáo. Đối với bị cáo H3 có vai trò tham gia tích cực, bị cáo là người cung cấp địa điểm, dụng cụ sử dụng ma tuý nên phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo T1 nhưng thấp hơn bị cáo H là phù hợp. Đối với bị cáo T1 có hành vi dùng kéo cắt gói ma tuý đổ vào trong nỏ thuỷ tinh để mọi người cùng sử dụng nên vai trò của bị cáo T1 là thấp nhất, do vậy bị cáo T3 chịu mức hình phạt thấp nhất trong số các bị cáo; Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt bị cáo T1 ở mức khởi điểm của khung hình phạt quy định là phù hợp.

[5] Bị cáo Đỗ Trọng H phạm hai tội nên cần áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt đối với bị cáo theo quy định.

[6] Về xử lý vật chứng:

Đối với toàn bộ chất ma tuý còn lại sau khi đã giám định trong phong bì niêm phong ký hiệu A có đóng dấu tròn đỏ của Phòng K Công an thành phố Đ; 01 (một) bình nhựa trên nắp có gắn ống hút và nỏ thuỷ tinh; 01 (một) quẹt ga màu đỏ; 01 ống hút được gọt nhọn một đầu; 01 (một) ví da; 01 (một) vỏ bao nylon rỗng; 01 (một) cây kéo cán màu đen; 09 (chín) vỏ bao nylon kích thước khoảng 08x11,5cm; 04 (bốn) vỏ bao nylon kích thước khoảng 2,5x4,5cm; 04 (bốn) vỏ bao nylon kích thước khoảng 2,5x01cm; 02 (hai) vỏ bao nylon kích thước khoảng 4x3,5cm; 01 (một) nỏ thuỷ tinh; 01 (một) ống hút, Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu, tiêu hủy.

Đối với 01 (một) căn cước công dân mang tên Nguyễn Đức H3, 01 (một) căn cước công dân mang tên Đỗ Trọng H là giấy tờ tuỳ thân của các bị cáo nên cần trả lại cho các bị cáo H3H.

Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone gắn sim số 0905.884.xxx của Đỗ Trọng H là phương tiện bị cáo liên lạc để mua ma tuý về tổ chức sử dụng nên cần tịch thu, sung ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu S màu đen gắn sim số đã bị khoá, bị vỡ màn hình của Nguyễn Đức H3, 01 điện thoại di động hiệu VS Mart màu xanh gắn sim số 0708.171.213 và sim số 0796.666.943 của Phan Đức T1; 01 điện thoại di động hiệu Nokia nắp trượt không lên màn hình của Đỗ Trọng H không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho các bị cáo, tuy nhiên cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.

Đối với số tiền 4.950.000 đồng bị thu giữ khi bắt quả tang, Đỗ Trọng H khai số tiền này và ma tuý là của đối tượng bán ma tuý tên “T2” nhờ bị cáo giữ giùm. Tuy nhiên, không xác định được nhân thân lai lịch của đối tượng này nên Hội đồng xét xử thấy cần tuyên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước đối với số tiền thu giữ này.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Về các vấn đề có liên quan đến vụ án:

[8.1] Đối với đối tượng tên T2 bán ma tuý cho H và nhờ H giữ giùm ma tuý, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch của người này nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, làm rõ, xử lý sau.

[8.2] Đối với Ngô Văn H5Đàm Duy L không tham gia vào việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và không biết việc Đỗ Trọng H tàng trữ ma tuý nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có cơ sở. Ngô Văn H5Đàm Duy L sử dụng ma tuý nên Toà án nhân dân quận Liên Chiểu đã ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Ngô Văn H5; Sở Lao động Thương binh và xã hội thành phố Đ đã ra quyết định tiếp nhận người vào cai nghiện ma tuý tự nguyện đối với Đàm Duy L.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Trọng H phạm các tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; các bị cáo Nguyễn Đức H3, Phan Đức T1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

1. Căn cứ: điểm b, h khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Đỗ Trọng H 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Căn cứ: điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Đỗ Trọng H 05 (năm) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Áp dụng: Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt của cả hai tội buộc bị cáo Đỗ Trọng H phải chấp hành là 13 (mười ba) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bị bắt, tạm giữ là ngày 13/7/2023.

2. Căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H3 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bị bắt, tạm giữ là ngày 13/7/2023.

3. Căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Phan Đức T1 07 (bảy) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bị bắt, tạm giữ là ngày 13/7/2023.

4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Tuyên tịch thu, tiêu hủy đối với: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu A được niêm phong bằng đóng dấu tròn đỏ của Phòng K Công an thành phố Đ, chữ ký giám định viên và điều tra viên đựng mẫu hoàn trả là chất ma tuý còn lại sau khi đã giám định; 01 (một) bình nhựa trên nắp có gắn ống hút và nỏ thuỷ tinh; 01 (một) quẹt ga màu đỏ; 01 (một) ống hút được gọt nhọn một đầu; 01 (một) ví da; 01 (một) vỏ bao nylon rỗng; 01 (một) cây kéo cán màu đen; 09 (chín) vỏ bao nylon kích thước khoảng 08x11,5cm; 04 (bốn) vỏ bao nylon kích thước khoảng 2,5x4,5cm; 04 (bốn) vỏ bao nylon kích thước khoảng 2,5x01cm; 02 (hai) vỏ bao nylon kích thước khoảng 4x3,5cm; 01 (một) nỏ thuỷ tinh; 01 (một) ống hút.

Tuyên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone gắn sim số 0905.884.xxx của bị cáo Đỗ Trọng H.

Tuyên trả lại cho bị cáo Nguyễn Đức H3 01 (một) căn cước công dân mang tên Nguyễn Đức H3, trả lại cho bị cáo Đỗ Trọng H 01 (một) căn cước công dân mang tên Đỗ Trọng H.

Tiếp tục tạm giữ của bị cáo Nguyễn Đức H3 01 (một) điện thoại di động hiệu S màu đen gắn sim số đã bị khoá, bị vỡ màn hình để đảm bảo cho việc thi hành án.

Tiếp tục tạm giữ của bị cáo Phan Đức T1 01 (một) điện thoại di động hiệu VS Mart màu xanh gắn sim số 0708.171.213 và sim số 0796.666.943 để đảm bảo cho việc thi hành án.

Tiếp tục tạm giữ của bị cáo Đỗ Trọng H 01 (một) điện thoại di động hiệu N1 nắp trượt không lên màn hình để đảm bảo cho việc thi hành án.

(Toàn bộ vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/4/2024).

Tuyên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước đối với số tiền 4.950.000 đồng (bốn triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng) (hiện đang tạm giữ tại tài khoản số 3949.0.904.1153.00000, đơn vị nhận tiền: Công an quận L, tại Kho bạc Nhà nước quận L theo Giấy nộp tiền vào tài khoản lập ngày 09/5/2024 của Ngân hàng TMCP C Chi nhánh B1 - Phòng G1).

5. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Buộc các bị cáo Đỗ Trọng H, Nguyễn Đức H3, Phan Đức T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm, báo cho các bị cáo có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND quận Liên Chiểu;
  • - VKSND TP. Đà Nẵng;
  • - Cơ quan điều tra Công an quận L;
  • - Chi cục THA dân sự quận L;
  • - Nhà tạm giữ Công an quận L;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phạm Anh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 79/2024/HS-ST ngày 13/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma tuý)

  • Số bản án: 79/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma tuý)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ Trọng H và đồng phạm tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger