|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH TỈNH LÂM ĐỒNG Bản án số: 79/2024/HNGĐ-ST Ngày: 12-9-2024 V/v Xin ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH – TỈNH LÂM ĐỒNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông K' My Na.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Bùi Ngọc Hà;
- Ông K' Đào.
Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Vân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh tham gia phiên tòa: Bà Hà Trang Quỳnh Huế- Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Di Linh. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 71/2023/TLST-HNGĐ ngày 02-3-2023 về việc xin ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 12-7-2024; Quyết định hoãn phiên toà số 71/QĐST- DS ngày 02-8-2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 78/2024/QÐST-DS ngày 16-8-2024 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Lê Văn C, sinh năm 1944
- Địa chỉ: Thôn Đ, quốc lộ B xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
- Người bảo về quyền và nghĩa vụ cho nguyên đơn: Ông Đinh Văn S- Luật sư của công ty TNHH P thuộc đoàn luật sư Thành phố H.
- - Bị đơn: Bà Mai Thị N, sinh năm 1944.
- Địa chỉ: Số A thôn P, xã G, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:Vợ chồng anh Nguyễn Văn Phi L, sinh năm 1962, chị Hồ Thị Ngọc A, sinh năm 1969
- Địa chỉ: Số A thôn P, xã G, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.
Các đương sự và luật sư có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, lời khai và lời trình bày tại phiên tòa của nguyên đơn ông Lê Văn C Chỉ trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà N tự nguyện kết hôn năm 2006, đăng ký kết hôn tại UBND phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2018 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng sống không hợp nhau, không có tình yêu thương. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Nay ông xác định tình cảm vợ chồng không còn. Đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.
Về con chung: Ông và bà N không có con chung.
Về tài sản: Tài sản chung vợ chồng gồm diện tích đất 1.533m² và tài sản trên đất thuộc thửa số 650, tờ bản đồ số 34c xã G được UBND huyện D cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BL 215203 ngày 05-10-2009 trị giá 3.399.038.000₫; diện tích đất 1.110m² và tài sản trên đất thuộc thửa số 704, tờ bản đồ số 34c xã G được UBND huyện D cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 750142 ngày 10-8-2010 trị giá 2.081.220.000đ và số tiền gửi tại Ngân hàng thương mại cổ phần Á, (được gọi tắt là Ngân hàng Á (A1)) phòng A1 là 2.000.000.000đ. Khi ly hôn ông đề nghị chia tài sản trên, ông xin nhận phần diện tích đất và tài sản trên đất thửa 704, tờ bản đồ số 34C xã G. Chia cho bà N diện tích đất và tài sản trên đất thuộc thửa 650, tờ bản đồ số 34C xã G, phần chênh lệch trị giá tài sản yêu cầu bà N hoàn trả lại cho ông số tiền 500.000.000đ.Tài sản nợ chung và tài sản cho vay chung không có.
Trước đây ông có yêu cầu chia số tiền 2.000.000.000đ gửi tại là Ngân hàng Á (A1) phòng A1 nay ông không yêu cầu chia số tiền trên, ông rút một phần nội dung yêu cầu khởi kiện.
- Theo đơn khởi kiện, lời khai và lời trình bày tại phiên tòa của bị đơn bà Mai Thị Nga N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông C tự nguyện kết hôn năm 2006, đăng ký kết hôn tại UBND phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Vợ chồng chung sống hạnh phúc không xảy ra mâu thuẫn, sống hoà thuận. Nguyên nhân ông C xin ly hôn do ông C sống không chung thuỷ và do con gái riêng của ông C. Hiện vợ chồng đã sống ly thân, bà xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, ông C xin ly hôn và yêu cầu chia tài sản bà không đồng ý.
Về con chung: Bà và ông C không có con chung.
Tài sản chung vợ chồng không có. Tài sản ông C yêu cầu chia là tài sản riêng của bà, nguồn gốc do bà bỏ tiền ra mua, mua cách đây khoảng 18 năm, diện tích đất 1.533m² và tài sản trên đất thuộc thửa số 650, tờ bản đồ số 34c xã G được UBND huyện D cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BL 215203 ngày 05-10-2009 và diện tích đất 1.110m² và tài sản trên đất thuộc thửa số 704, tờ bản đồ số 34c xã G được UBND huyện D cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 750142 ngày 10-18-2010 đứng tên ông C và bà, hiện nay do bà đang quản lý, sử dụng. Số tiền 2.000.000.000₫ gửi tại Ngân hàng Á (A1) phòng A1 như ông C trình bày là không có, bà không biết số tiền trên.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vợ chồng anh Nguyễn Văn Phi L, chị Hồ Thị Ngọc A trình bày:
Anh và bà N có quan hệ là mẹ con, anh là con riêng của bà N. Vợ chồng anh về sống với bà N từ tháng 6 năm 2019. Khi về sống cùng với bà N và ông C, do căn nhà đã xuống cấp nên vợ chồng anh đã bỏ tiền ra tu sữa và làm nhà tiền chế để nuôi tằm. Nay ông C và bà N ly hôn và chia tài sản, vợ chồng anh yêu cầu ông C và bà N phải hoàn trả lại cho vợ chồng anh số tiền bỏ ra tu sửa căn nhà và làm nhà tiền chế số tiền 362.300.000₫.
Về chi phí tố tụng đã thanh quyết toán chi phí hợp lý 38.500.000đ, ông C đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng có quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng khác trong quá trình giải quyết vụ án là đúng quy định pháp luật.
Về nội dung giải quyết vụ án, căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ông C được ly hôn bà N, Chia tài sản chung của vợ chồng, bà N được hưởng 60%, ông C được hưởng 40%/ tổng trị giá tài sản, buộc bà N trả cho ông C trị giá chênh lệch 110.883.000đ. Đình chỉ một phần nội dung yêu cầu khởi kiện của ông C.
Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Ông C và bà N tự nguyện kết hôn năm 2006, đăng ký kết hôn tại UBND phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng sống không hợp nhau, không có tình yêu thương. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, ông C xác định tình cảm vợ chồng không còn. Bà N xác định vợ chồng không có mâu thuẫn gì, ông C tự bỏ nhà đi từ năm 2022 đến nay. Tại phiên toà bà xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, Ông C xin ly hôn và yêu cầu chia tài sản bà không đồng ý. Trong quá trình giải quyết vụ án bà trình bày ông chỉ xin ly hôn yêu cầu chia tài sản thì bà không đồng ý, nếu ly hôn tài sản của ai người đó tự quản lý thì bà đồng ý. Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa ông C và bà N đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, xử ông C được ly hôn bà N là phù hợp.
[2] Về con chung: Ông C và bà N xác định, vợ chồng không có con chung nên không xem xét giải quyết.
[3] Về tài sản: Ông C xác định vợ chồng có tài sản chung là diện tích đất 1.533m² và tài sản trên đất thuộc thửa số 650, tờ bản đồ số 34c xã G được UBND huyện D cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BL 215203 ngày 05-10-2009 trị giá 3.399.038.000đ và diện tích đất 1.110m² và tài sản trên đất thuộc thửa số 704, tờ bản đồ số 34c xã G được UBND huyện D cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 750142 ngày 10-8-2010 đứng tên ông C, bà N trị giá 2.081.220.000đ. Ông C yêu cầu chia tài sản trên, ông xin nhận phần diện tích đất và tài sản trên đất thửa 704, tờ bản đồ số 34C xã G. Chia cho bà N diện tích đất và tài sản trên đất thuộc thửa 650, tờ bản đồ số 34C xã G, phần chênh lệch trị giá tài sản yêu cầu bà N hoàn trả lại cho ông số tiền 500.000.000đ. Bà N không đồng ý chia tài sản trên, bà cho rằng đó là tài sản riêng của bà, nguồn gốc do bà bán căn nhà bà được thừa kế ở thành phố Hồ Chí Minh và bán căn nhà số D tại T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh của ông Lê Văn C do ông C viết di chúc để lại cho bà, sau đó dùng số tiền trên mua đất ở xã G, huyện D là diện tích đất mà ông C yêu cầu chia. Bà có giao nộp chứng cứ khế ước bán nhà, đơn xin xác nhận số nhà củ, đơn xác nhận không thừa hưởng di sản thừa kế và bản tường trình, tại phiên toà bà nộp thêm tờ di chúc (bản phô tô).
Hội đồng xét xử xét thấy: Diện tích đất 1.533m² và tài sản trên đất thuộc thửa số 650, tờ bản đồ số 34c xã G được UBND huyện D cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BL 215203 ngày 05-10-2009 và diện tích đất 1.110m² và tài sản trên đất thuộc thửa số 704, tờ bản đồ số 34c xã G được UBND huyện D cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 750142 ngày 10-8-2010 đứng tên ông C, bà N là tài sản chung của vợ chồng, tạo lập trong thời kỳ hôn nhân, nên có căn cứ xác định là tài sản chung vợ chồng. Tổng trị giá tài sản 5.480.633.000đ, tuy nhiên khi chia xét công sức đóng góp tạo dựng tài sản trên, bà N có công sức đóng góp nhiều hơn nên bà N được hưởng 60% trị giá tài sản tương ứng với số tiền 3.288.379.000đ và ông C được hưởng 40% trị giá tài sản 2.192.253.000đ là phù hợp.
Ông C đề nghị chia tài sản trên, chia bằng hiện vật, xét thấy việc chia bằng hiện vật là khả thi phù hợp với hiện trạng diện tích đất, ông C xin nhận phần diện tích đất và tài sản trên đất thửa 704, tờ bản đồ số 34C xã G trị giá 2.081.220.000đ. Chia cho bà N diện tích đất và tài sản trên đất thuộc thửa 650, tờ bản đồ số 34C xã G diện tích 1554,4m² trị giá 3.399.038.000đ là phù hợp (có họa đồ đo vẽ kèm theo).
[4] Về phần chênh lệch trị giá tài sản ông C yêu cầu bà N thanh toán trị giá chênh lệch trị giá tài sản là 500.000.000đ. Xét thấy phần trị giá tài sản chia cho bà N có trị giá lớn hơn trị giá tài sản chia cho ông C cũng như tỉ lệ chia tài sản, nên chấp nhận một phần yêu cầu của ông C buộc bà N trả cho ông C số tiền chênh lệch tương ứng là 110.883.000đ là phù hợp.
[5] Từ những phân tích trên, chấp nhận một phần nội dung yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn C, chia diện tích đất 1.533m² và tài sản trên đất thuộc thửa số 650, tờ bản đồ số 34c xã G được UBND huyện D cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BL 215203 ngày 05-10-2009 cho bà Mai Thị N và chia diện tích đất 1.110m² và tài sản trên đất thuộc thửa số 704, tờ bản đồ số 34c xã G được UBND huyện D cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 750142 ngày 10-8-2010 đứng tên ông C, bà N cho ông Lê Văn C. Các bên đương sự có trách nhiệm liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục theo quy định. Buộc bà Mai Thị N trả cho ông Lê Văn C chênh lệch trị giá tài sản số tiền 110.883.000đ.
[6] Đình chỉ một phần nội dung yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn C về việc yêu cầu chia số tiền 2.000.000.000đ gửi ở tài khoản tại Ngân hàng Á (A1) phòng A1 là phù hợp.
[7] Tài sản nợ chung và tài sản cho vay chung, ông C và bà N xác định không có nên không xem xét giải quyết.
[8] Về chi phí tố tụng: Sau khi thanh quyết toán chi phí hợp lý thì chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí thẩm định giá tài sản là 38.500.000đ. Ông C yêu cầu giải quyết theo pháp luật nên cần buộc bà N hoàn trả lại cho ông C ½ số tiền trên là có căn cứ.
[9] Đối với yêu cầu độc lập của vợ chồng anh Nguyễn Văn Phi L, chị Hồ Thị Ngọc A: Vợ chồng anh L, chị A về sống với bà N từ tháng 6 năm 2019. Khi về sống cùng với bà N do căn nhà đã xuống cấp nên vợ chồng anh đã bỏ tiền ra tu sửa và làm nhà tiền chế để nuôi tằm. Nay ông C và bà N ly hôn và chia tài sản, vợ chồng anh yêu cầu ông C và bà N phải hoàn trả lại cho vợ chồng anh số tiền bỏ ra tu sửa căn nhà và làm nhà tiền chế số tiền 362.300.000đ. Xét yêu cầu của anh L, chị A là có căn cứ nên buộc ông C và bà N mỗi người trả ½ số tiền trên là có căn cứ.
[10] Về án phí: Căn cứ Điều 144; Điều 147 của bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/NQ- UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Ông C và bà N phải chịu án phí theo quy định pháp luật. Tuy nhiên hiện nay ông, bà đã trên 60 tuổi và có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144; Điều 147; Điều 157; Điều 164; Điều 266; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Điều 51; Điều 56; Điều 33; Điều 34; Điều 59; Điều 60 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
Chấp nhận một phần nội dung yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn C.
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê Văn C được ly hôn bà Mai Thị N.
- Về tài sản: Chia phần diện tích đất và tài sản trên đất thửa 704, tờ bản đồ số 34C xã G, được UBND huyện D cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 750142 ngày 10-8-2010 đứng tên ông C, bà N cho ông Lê Văn C (có họa đồ vẽ kèm theo).
- Chia phần diện tích đất và tài sản trên đất thuộc thửa 650, tờ bản đồ số 34C xã G diện tích 1.554,4m² được UBND huyện D cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BL 215203 ngày 05-10 - 2009 cho bà Mai Thị N (có họa đồ đo vẽ kèm theo). Các bên đương sự có trách nhiệm liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục theo quy định. Buộc bà Mai Thị N trả cho ông Lê Văn C số tiền chênh lệch trị giá tài sản 110.883.000đ.
- Đình chỉ một phần nội dung yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn C về việc yêu cầu chia số tiền 2.000.000.000₫ gửi ở tài khoản tại ngân hàng TMCP ACB phòng giao dịch Di Linh
- Về chi phí tố tụng: Buộc bà Mai Thị N hoàn trả cho ông Lê Văn C số tiền chi phí tố tụng 19.250.000đ.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vợ chồng anh Nguyễn Văn Phi L, chị Hồ Thị Ngọc A. Buộc ông Lê Văn C trả cho vợ chồng anh Nguyễn Văn Phi L, chị Hồ Thị Ngọc A số tiền 181.150.000đ. Buộc bà Mai Thị N trả cho vợ chồng anh Nguyễn Văn Phi L, chị Hồ Thị Ngọc A số tiền 181.150.000đ.
- Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án còn phải trả số tiền lãi tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả, theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự.
- Về án phí: Ông Lê Văn C, bà Mai Thị N được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay, đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Người vắng mặt tại phiên Tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA K' My Na |
Bản án số 79/2024/HNGĐ-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH – TỈNH LÂM ĐỒNG về xin ly hôn
- Số bản án: 79/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH – TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HNGĐ
