|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG Bản án số: 79/2024/HS-ST Ngày 12 tháng 8 năm 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Chân.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thanh Hảo, ông Nguyễn Thanh Trang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Cheo, Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 69/2024/HSST ngày 17 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:
-
Nguyễn Văn P (P1), sinh năm 1982; nơi cư trú: Ấp T, xã P, huyện G, tỉnh Tiền Giang, chỗ ở hiện nay: khu phố L, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Thợ xây dựng; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1963 và bà Trương Thị S, sinh năm 1963; vợ là Trần Thị Mỹ L.
Tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 21/3/2024 cho đến nay.
-
Bùi Nguyễn Nhật Q, sinh năm 1998; nơi cư trú: Ấp C, thị trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang; chỗ ở hiện nay: số C, tổ B, ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang, nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn C (chết) và Nguyễn Thị Kim O, sinh năm 1969; chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 21/3/2024 cho đến nay.
Luật sư bào chữa cho bị cáo P - Q: Ông Huỳnh Tấn D, Công ty L1, Đoàn Luật sư T1.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị Bích T, sinh năm 1989; nơi cư trú: Tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang;
- Bà Huỳnh Thị Ánh N, sinh năm 1977; nơi cư trú: Tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang;
- Bà Huỳnh Thị Ánh N1, sinh năm 1975; nơi cư trú: Tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang;
- Bà Huỳnh Tường V, sinh năm 2002; nơi cư trú: Tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang;
- Bà Huỳnh Thị Cẩm V1, sinh năm 1987; nơi cư trú: Tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang;
- Bà Phan Thị Quế M, sinh năm 1986; nơi cư trú: Tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang;
- Bà Đặng Kim H, sinh năm 1988; nơi cư trú: Tổ H, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang;
Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng tháng 11 năm 2023, Nguyễn Văn P - Bùi Nguyễn Nhật Q hoạt động cho vay tiền với lãi suất cao. Để thực hiện, P in nhiều tờ rơi thể hiện nội dung cho vay, số điện thoại rồi rải các tờ rơi trên các tuyến đường địa bàn thành phố C. Khi người vay có nhu cầu vay sẽ gọi vào số điện thoại của P hoặc số điện thoại của Q. Khi đó P, Q sẽ thỏa thuận với người vay theo hình thức trả góp mỗi ngày theo tỷ lệ: 1.000.000 đ, mỗi ngày góp 50.000 đ, góp trong thời gian 25 ngày sẽ trả dứt nợ gốc và lãi, tuỳ theo số tiền vay mà người vay tiền sẽ góp nhiều hay ít theo tỷ lệ trên.
P, Q đến nơi cư trú của người vay để xác định thông tin nhà ở, nghề nghiệp...thì P, Q cho vay; Đồng thời trước khi cho vay yêu cầu người vay sẽ đưa thẻ căn cước công dân và dùng điện thoại di động chụp ảnh của người vay lưu lại để làm tin. Khi giao tiền cho người vay P, Q sẽ trừ tiền phải trả góp trước 02 ngày và thu phí cho vay (phí đi đường) theo quy ước là 1.000.000₫ thu thêm 50.000đ.
Nếu người vay muốn đáo hạn (dồn tiền để vay tiếp) thì phải trả góp ít nhất là 13 – 15 ngày mới đủ điều kiện đáo hạn. Khi đó, P, Q sẽ trừ đi số tiền người vay chưa góp vào số tiền vay mới, đồng thời trừ tiền phải trả góp trước 02 ngày và thu thêm phí cho vay như lần vay đầu tiên. Từ tháng 11/2023 đến tháng 4/2024, P, Q cho 07 người vay tiền với tổng số tiền 715.000.000 đ, thu lợi bất chính 197.459.443đ, cụ thể:
Nguyễn Thị Bích T vay 22 lần, tổng số tiền là 280.000.000đ, lãi suất mỗi lần vay từ 30% trở lên trên tháng, vượt mức lãi suất cao nhất quy định trong bộ Bộ luật Dân sự 18 lần, thu lợi bất chính 77.058.333đ; tương tự N vay 18 lần, tổng số tiền là 125.000.000đ, thu lợi bất chính 38.169.445đ; N1 vay 17 lần, tổng số tiền là 170.000.000đ, thu lợi bất chính 47.522.333đ; V vay 12 lần, tổng số tiền là 95.000.000đ, thu lợi bất chính 25.469.444đ; V1 vay 05 lần, tổng số tiền là 15.000.000đ, thu lợi bất chính 3.648.333đ; M vay 03 lần, tổng số tiền là 25.000.000đ, thu lợi bất chính 5.236.111đ; H vay 01 lần, tổng số tiền là 5.000.000đ, lãi suất 30%/ tháng, thu lợi bất chính 344.444đ.
Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave màu trắng, biển số 67M1-677.69, đã qua sử dụng; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 67M1-677.69; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro max, màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno5, màu trắng; Tiền Việt Nam 28.750.000 đồng; 05 thẻ căn cước công dân mang tên: P – Q; T; N và N1 (đã trả lại cho T, N, N1).
Căn cứ Kết luận giám định số 496/KL-KTHS ngày 21/4/2024 của Phòng K - Công an tỉnh A, ghi nhận: Tìm thấy dữ liệu lưu trữ trong điện thoại di động thu gữ của P và Q gồm: Nhật lý điện thoại, tin nhắn SMS, file hình ảnh, tin nhắn ứng dụng Zalo, M1 có liên quan đến hành vi cho vay lãi nặng.
Ngày 21/3/2024 Cơ quan Cảnh sát Điều tra Châu Đốc ban hành các Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn P và Bùi Nguyễn Nhật Q về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Cáo trạng số: 62/CT-VKSCĐ-HS ngày 17/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc đã truy tố các bị cáo P và Q về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo P, Q khai nhận để thu lợi bất chính, đã thực hiện hành vi cho vay lãi nặng như nội dung Cáo trạng đã truy tố.
Kiểm sát viên trình bày lời luận tội:
Lời nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Viện kiểm sát truy tố các bị cáo về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 201, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo P 09 (chín) tháng đến 10 (mười) tháng tù; bị cáo Q từ 06 (sáu) tháng đến 07 (bảy) tháng tù về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Về hình phạt bổ sung đối bị cáo P từ 30 đến 40 triệu; không áp dụng đối với các bị cáo Q.
Về biện pháp tư pháp: Buộc bị cáo P số tiền 715.000.000đ dùng để cho vay tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự (20%/năm) được khấu trừ 28.750.000đ vào phần giao nộp biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc ngày 08/8/2024.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự xử lý theo quy định của pháp luật.
Luật sư bào chữa cho các bị cáo: Thống nhất Cáo trạng và luận tội của Kiểm sát viên về các tình tiết giảm nhẹ, đề nghị tòa khi lượng hình xem cho các bị cáo là số tiền phạm tội không lớn đối với từng cá nhân nhận vay; khi cho vay mặt dù lãi cao hơn quy định nhưng là thỏa thuận, không có sự cưỡng ép khi thu lãi hay vốn không có uy hiếp hoặc các thủ đoạn gian dối, vũ lực...; mức lãi tuy cao nhưng so với các vụ án khác thì mức lãi trong vụ án này không quá cao nên xin cho bị cáo P từ 6 đến 7 tháng tù; Q bằng thời hạn tạm giam.
Viện Kiểm sát bảo lưu luận tội.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên, lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát. Kiểm sát viên được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được pháp luật tố tụng hình sự quy định.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện đúng quy định của pháp luật.
[2] Sự vắng mặt của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Tuy nhiên, đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quyết định vẫn tiến hành xét xử.
[3] Về hành vi phạm tội
Theo hồ sơ và tại phiên tòa, từ tháng 11/2023 đến tháng 3/2024, P - Q đã có hành vi cho 07 người vay với tổng số tiền 715.000.000 đồng, lãi suất mỗi lần vay từ 30% - 68,18%/tháng (tương đương 360% - 818%/năm), thu lợi bất chính 197.459.443 đồng. Với lãi suất vượt quá từ gấp 5 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, cụ thể khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 quy định: “Lãi suất vay do các bên thoả thuận.
Trường hợp các bên có thoả thuận về lãi suất thì lãi suất theo thoả thuận không được vượt qua 20%/năm của khoản tiền vay...”.
Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố và xác định quá trình cho vay các bị cáo có thu lợi bất chính với số tiền 97.459.443 đồng.
Xét thấy, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự. Cho nên, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo ra trước phiên tòa về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự và lời buộc tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.
[4] Về tính chất, mức độ phạm tội:
Hành vi cho vay lãi nặng đang là vấn đề được Đảng và Nhà nước quan tâm, xâm phạm đến khách thể là trật tự quản lý kinh tế của nhà nước về hoạt động tín dụng, xâm phạm đến lợi ích tài chính của công dân, mọi hành vi cho vay lãi nặng nhằm thu lợi bất chính đều phải bị xử lý nghiêm nhằm bảo đảm trật tự, trị an của xã hội. Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo là người đã trưởng thành, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo biết việc cho vay lãi nặng là trái pháp luật, nhưng chỉ vì động cơ tư lợi, các bị cáo đã lợi dụng người đi vay tiền đang gặp hoàn cảnh khó khăn để cho vay với mức lãi suất cao hơn nhiều lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Vì vậy, cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[5] Vai trò đồng phạm: Trong vụ án, cả hai bị cáo cùng nhau thống nhất ý chí thực hiện tội phạm. Vì vậy, phát sinh vai trò đồng phạm nhưng giản đơn không có sự câu kết chặt chẽ trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, cần phân hóa vai trò của từng bị cáo để cá thể hóa hình phạt, bị cáo P là người giữ vai trò chính do đó mức hình phạt đối với bị cáo P phải cao hơn bị cáo Q.
[6] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Nhận thấy các bị cáo P, Q có nhân thân tốt, chưa tiền án tiền sự, không có tình tiết tăng nặng, các tình tiết giảm nhẹ “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”; “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” theo điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Ngoài ra, cho nhiều người vay nhưng các lần cho vay số tiến thấp; mức lãi cao nhưng không quá cao hơn các vụ án khác; không có hành vi cưỡng ép đe dọa trong thu lãi, thu vốn hay thủ đoạn nguy hiểm khác; thu lợi bất chính không lớn. Vì vậy có xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
[7] Về hình phạt bổ sung: Cần phạt tiền bị cáo P; Q làm thuê nên không áp dụng.
[8] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave màu trắng, biển số 67M1-677.69, đã qua sử dụng; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 67M1-677.69 và số tiền Việt Nam 28.750.000đ, không liên quan đến tội phạm, xét giao trả cho bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án;
- Điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro max, màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno5, màu trắng dùng vào việc phạm tội tịch thu sung quỹ.
- Đối với 05 thẻ căn cước công dân mang tên: Nguyễn Văn P, Bùi Nguyễn Nhật Q; Nguyễn Thị Bích T, Huỳnh Thị Ánh N, Huỳnh Thị Ánh N1 đã trả lại cho T, N, N1 nên không đề cập giải quyết.
[9] Các biện pháp tư pháp: 715.000.000đ thực hiện cho vay; 197.459.443₫ thu lợi bất chính, buộc các bị cáo giao nộp sung ngân sách Nhà nước.
[10] Về án phí: Các bị cáo P, Q mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về hình phạt chính: Căn cứ vào khoản 2 Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P, Bùi Nguyễn Nhật Q phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”;
Xử phạt Nguyễn Văn P 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo P được tính kể từ ngày 21/3/2024.
Xử phạt Bùi Nguyễn Nhật Q 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo P được tính kể từ ngày 21/3/2024.
- Hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 3 Điều 201Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Phạt bị cáo P 40.000.000 đồng nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro max, màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno5, màu trăng.
Giao trả bị cáo P: 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Wave màu trắng, biển số 67M1-677.69, đã qua sử dụng; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô 67M1-677.69 và 28.750.000 đồng. (tiếp tục giử xe, tiền đảm bảo thi hành án)
Giao trả cho bị cáo P – Q căn cước công dân tên Nguyễn Văn P; Bùi Nguyễn Nhật Q.
- Các biện pháp tư pháp: Buộc các bị cáo giao nộp 715.000.000 đồng dùng vào việc phạm tội và 197.459.443 đồng thu lợi bất chính vào ngân sách nhà nước.
- Về án phí sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ;Buộc bị cáo P, Q mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo của người vắng mặt là 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Nguyễn Quang Chân |
Bản án số 79/2024/HS-ST ngày 12/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 79/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
