Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ MỸ THO

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số:79/2024/HS-ST

Ngày: 11-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Cao Thị Trúc Linh.

Các Hội thẩm nhân nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Tất Ái .
  2. Ông Lê Văn Kiệt

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trạng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tỉnh- Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Toà án nhân dân TP Mỹ Tho xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 53/2024/HSST ngày 17 tháng 4 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Dương Văn H sinh năm 1989, tại tỉnh Tiền Giang. Tên gọi khác: Biển. HKTT: ấp T, xã T, TP M, tỉnh Tiền Giang. Nơi cư trú: số A đường L, phường F, thành phố M, tỉnh Tiền Giang. Nghề nghiệp: buôn bán. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 09/12. Con ông Dương Ngọc H1 và bà Nguyễn Thị M. Bị cáo có 02 chị ruột; Bị cáo có vợ tên Trần Thị Cẩm T (đã ly hôn), hiện đang chung sống như vợ chồng với Nguyễn Thị Cẩm H2; Bị cáo có 02 người con, sinh năm 2009 và 2011.Tiền án, tiền sự: Không có

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 17/8/2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố M

Bị cáo có mặt tại phiên tòa

  1. Lương Văn Minh S, sinh năm 1993, tại Tiền Giang; HKTT: ấp H, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Nơi cư trú: ấp H, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Nghề nghiệp: Làm thuê; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 04/12. Con ông Lương Văn Bé B và bà Võ Như Ý (Đã mất). Bị cáo có 01 em ruột; Bị cáo chưa có vợ con;.Tiền án, tiền sự: Không có

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 17/8/2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố M

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  1. Lê Văn T1, sinh năm 1993, tại tỉnh Đồng Tháp. HKTT:Khóm A,phường A, TP H, tỉnh Đồng Tháp. Nơi cư trú: Khóm A,phường A, TP H, tỉnh Đồng Tháp. Nghề nghiệp: Làm thuê; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 03/12. Con ông Lê Văn D (Đã mất) và bà Trần Minh H3 (Đã mất). Bị cáo có 07 anh chị em, là con thứ 06 trong gia đình; Bị cáo chưa có vợ con;.Tiền án, tiền sự: Không có

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 17/8/2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố M

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  1. Nguyễn Văn L, sinh năm 1996, tại Tỉnh Tiền Giang. Tên gọi khác: Giới; HKTT:ấp T, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Nơi cư trú: ấp T, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang ; Nghề nghiệp: Làm thuê.; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 09/12. Con ông Nguyễn Văn M1 (Đã mất) và Lê Thị C. Bị cáo có 03 anh chị, là con thứ 04 trong gia đình; Bị cáo có vợ tên Ngô Diễm K Mỹ L, bị cáo chưa có con;. Tiền án, tiền sự: Không có

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 17/8/2023.Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố M

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  1. Đặng Quang Minh N sinh ngày 16/01/2004, tại tỉnh Tiền Giang.Tên gọi khác: Q. HKTT: ấp H, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Nơi cư trú: ấp H, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 03/12. Con ông Đặng Ngọc O (Đã mất) và bà Nguyễn Thị L1; Bị cáo có 02 em ruột; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không có

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 17/8/2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố M

Bị cáo có mặt tại phiên tòa

* Những người tham gia tố tụng:

  1. Người bào chữa:
  • Người bào chữa cho bị cáo Dương Văn H: Luật sư Võ Tuấn Vĩnh T2 – luật sư của công ty L3, thuộc Đoàn luật sư tỉnh T
  • Người bào chữa cho bị cáo Lương Văn Minh S, Lê Văn T1, Nguyễn Văn L, Đặng Quang Minh N: luật sư Nguyễn Hoàng A- luật sư của Văn phòng L4 thuộc Đoàn luật sư tỉnh T.
  1. Người bị hại:
  • Huỳnh Văn C1 sinh năm 1975.(Xin vắng mặt)

Địa chỉ: ấp A, xã Đ, huyện M, tỉnh Bến Tre

  • Đoàn Văn P sinh năm 1992.(Xin vắng mặt)

Địa chỉ: ấp An Qui, xã Đa Phước Hội, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre

  1. Người làm chứng:
  • Đinh Kiều N1 sinh năm 1987; Vắng mặt

Địa chỉ: ấp A, xã Đ, huyện M, tỉnh Bến Tre.

  • Lương Vĩnh N2 sinh năm 1992;Vắng mặt

Địa chỉ: khóm A, thị trấn C, huyện C, tỉnh Trà Vinh

  • Ngô Kiều My L2 sinh năm 1998;Vắng mặt

Địa chỉ: ấp T, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang

  • Nguyễn Huỳnh T3 sinh năm 1987;Vắng mặt

Địa chỉ: khu phố E, phường A, thành phố M, tỉnh Tiền Giang

  • Trần Văn S1 sinh năm 1990;Vắng mặt

Địa chỉ: ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

  • Phạm Thanh T4 sinh năm 1995;Vắng mặt

Địa chỉ: ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 02/4/2023, anh Huỳnh Văn C1 và anh Đoàn Văn P và chị Đinh Kiều N1 cùng trú tại ấp A, xã Đ, huyện M, tỉnh Bến Tre, đến xe bán nước giải khát trước nhà có địa chỉ 6 L, phường F, thành phố M, tỉnh Tiền Giang của anh Lương Vĩnh N2 để uống nước. Tại đây, anh C1 có xảy ra cự cãi với chị Nguyễn Thị Cẩm H2 sinh năm 1993 tạm trú tại 1 L, phường F, thành phố M, tỉnh Tiền Giang. Sau đó, chị H2 về nhà nói lại cho Dương Văn H (Biển) nghe đã xảy ra mâu thuận với người đi xe mô tô hiệu Future biển số 71, màu trắng. Lúc này, tại nhà của HLê Văn T1, Nguyễn Văn L (G), Đặng Quang Minh N (Q); Lương Văn Minh S và một số người khác đang ngồi ăn uống. Sau khi nghe H2 kể chuyển xảy ra mâu thuận thì H rủ những người có mặt tại nhà đi tìm anh C1, anh P để đánh nên L, N, Sang T5 cùng đi với H. Khi cả nhóm đến trước vị trí xe nước giải khát thì thấy anh C1, anh P và chị N1 đang ngồi uống nước thì cả nhóm vào hỏi xe mô tố hiệu Future của ai, thì anh P trả lời là của anh liền bị N xông vào vật ngã anh P xuống đất dùng tay đánh nhiều cái vào vùng mặt của anh P. Thấy vậy, H xông vào dùng tay, chân đánh anh P. L sử dụng ghế xếp bằng kim loại có sẵn tại quán nước đánh vào người anh C1; S sử dụng tay, chân để đánh anh C1. N sau đó tiếp tục đánh anh C1 bằng nón bảo hiểm và bằng tay, chân với N, L; Riêng L, sau khi đánh anh C1 xong thì L sử dụng ghế kim loại đánh vào vùng mặt của anh P làm anh P té ngã xuống đất ngất xỉu, thấy vậy cả nhóm bỏ đi. Đến ngày 17/8/2023, H, L, N, S, T5 bị bắt tạm giam để điều tra làm rõ.

Theo Kết luận giám định pháp y về thương tích số 143 và 148 cùng ngày 18/4/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận kết luận: thương tích của anh Huỳnh Văn C1 là 16% do vật tày gây nên, anh C1 bị chấn thương đầu, vết thương đuôi mắt phải, gãy kín xương bàn ngón V và đốt I ngón 2 bàn tay phải; thương tích của Đoàn Văn P là 29% do vật tầy gây nên, anh P bị vết thương phần mềm trong mắt trái, gãy thành trước xoang hàm trái, vỡ xương má và xương hàm, vỡ xương mũi.

Trong quá trình điều tra, truy tố: Các bị cáo Nguyễn Văn L, Đặng Quang Minh N, Lương Văn Minh S thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội phù hợp vật chứng thu giữ, kết quả giám định, lời khai bị hại, người làm chứng và các chứng cứ khác thu thập có trong hồ sơ vụ án, các bị cáo H đã thay mặt các bị cáo khác bồi thường khắc phục xong phần trách nhiệm dân sự, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên được xem là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

Vật chứng thu giữ trong vụ án:

  • 02 Cái ghế kim loại sơn màu vàng (loại ghế xếp) lưới màu đen;
  • 01 đĩa DVD bên trong chứa dữ liệu điện tử là các đoạn video của camera ghi nhận hình ảnh các bị cáo liên quan đến việc thực hiện hành vi cố ý gây thương tích ngày 02/4/2023.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo H đã thay mặt các bị cáo trong vụ án bồi thường chi phí điều trị thương tích cho bị hại C1 số tiền 30.000.000 đồng, bị hại P số tiền 65.000.000 đồng. Các bị hại đã nhận tiền bồi thường và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Đối với Nguyễn Thị Cẩm H2 là người xảy ra mâu thuẫn với anh C1 và chỉ vị trí anh C1 và anh P cho H biết. Tuy nhiên, H2 chỉ kể lại sự việc và không yêu cầu H đi đánh anh C1, anh P và bản thân cũng không tham gia vào sự việc trên nên Cơ quan cảnh sát điều tra không xử lý hình sự với H2.

Bản cáo trạng số 51/CT-VKSMT ngày 17/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho truy tố bị cáo Dương Văn H, Nguyễn Văn L, Lương Văn Minh S, Lê Văn T1, Đặng Quang Minh N về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm d khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự,

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố phát biểu luận tội đã phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo và khẳng định việc truy tố các bị cáo như nội dung bản cáo trạng là đúng người, đúng tội không có gì thay đổi và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm d khoản 3 Điều 134, Điều 38, Điều 50, điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 (BLHS). Tuyên bố bị cáo Dương Văn H phạm tội Cố ý gây thương tích và xử phạt bị cáo mức án từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù.

Áp dụng điểm d khoản 3 Điều 134, Điều 38, Điều 50, điểm b khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 (BLHS). Tuyên bố bị cáo Lê Văn T1 phạm tội Cố ý gây thương tích và xử phạt bị cáo mức án từ 05 năm 6 tháng đến 06 năm tù.

Áp dụng điểm d khoản 3 Điều 134, Điều 38, Điều 50, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51,Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 (BLHS). Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội Cố ý gây thương tích và xử phạt bị cáo mức án từ 05 năm đến 5 năm 06 tháng tù.

Áp dụng điểm d khoản 3 Điều 134, Điều 38, Điều 50, điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51,Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 (BLHS). Tuyên bố bị cáo Đặng Quang Minh N phạm tội Cố ý gây thương tích và xử phạt bị cáo mức án từ 05 năm đến 5 năm 06 tháng tù.

Áp dụng điểm d khoản 3 Điều 134, Điều 38, Điều 50, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 (BLHS). Tuyên bố bị cáo Lương Văn Minh S phạm tội Cố ý gây thương tích và xử phạt bị cáo mức án từ 05 năm đến 5 năm 06 tháng tù. .

Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo thỏa thuận bồi thường cho các bị hại nhận xong và không có yêu cầu nào khác nên không xem xét.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 02 cái ghế kim loại sơn màu vàng (loại ghế xếp) lưới màu đen;.

Tại phiên tòa hôm nay,

Luật sư bào chữa cho bị cáo H thống nhất với tội danh và mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề xuất đối với bị cáo. Tuy nhiên, đề nghị HĐXX xem xét mức độ thực hiện hành vi của từng bị cáo gây ra để cụ thể hóa từng hành vi của từng bị cáo từ đó đưa ra hình phạt phù hợp. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như bị cáo đã tự nguyện bồi thường tất cả chi phí cho hai bị hại; nên đề nghị áp dụng khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, áp dụng Điều 54 để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Luật sư bào chữa cho bị cáo T1, L, N, S thống nhất với tội danh và mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề xuất đối với bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b,s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, áp dụng Điều 54 để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Việc bị cáo Dương Văn H, Nguyễn Văn L, Lương Văn Minh S, Lê Văn T1, Đặng Quang Minh N khai nhận hành vi phạm tội, sự thừa nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã nêu, kết luận giám định, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên đủ cở sở kết luận: khoảng 21 giờ 20 phút ngày 02/4/2023, sau khi nghe Nguyễn Thị Cẩm H2 là người chung như vợ chồng với Dương Văn H kể lại sự việc xảy ra mâu thuẫn với anh Huỳnh Văn C1 và anh Đoàn Văn P tại quán nước ở 6 L, phường F, thành phố M nên H rủ Nguyễn Văn L, Lương Văn Minh S, Đăng Quang MLê Văn T1 đi tìm anh C1, anh P để đánh. Khi đến nơi, H, T1, N, Q1, L sử dụng ghế bằng kim loại, mũ bảo hiểm và tay chân đẻ đánh nhau với anh C1, anh P, gây thương tích cho anh C1 16% và anh P 29% nên phải chịu trách nhiệm hình sự. Việc giám định này đã tuân thủ đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Các bị cáo, bị hại không có ý kiến gì về việc kết quả giám định. Do đó, Kết luận giám định Pháp y về thương tích nêu trên là hợp pháp.

Vì vậy, hành vi của bị cáo Dương Văn H, Nguyễn Văn L, Lương Văn Minh S, Lê Văn T1, Đặng Quang Minh N đã phạm tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

[3].Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Tuy nhiên, để có cơ sở khi quyết định hình phạt cần xem xét đến vai trò và mức độ phạm tội của từng bị cáo

Trong vụ án này, tuy có nhiều bị cáo cùng thực hiện tội phạm nhưng hành vi của các bị cáo không có sự cấu kết chặt chẽ với nhau, không có sự phân công cụ thể nên là đồng phạm giản đơn không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức.

[3.1] Đối với bị cáo Dương Văn H: Bị cáo là người trực tiếp rủ rê lôi kéo các bị cáo còn lại thực hiện hành vi gây thương tích cho các bị hại, tuy nhiên tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, nhưng bị cáo H không thừa nhận có hành vi rủ rê các bị cáo L, N, T1, Q1 thực hiện hành vi đi tìm anh C1 và anh P để đánh theo nội dung bản cáo trạng đã nêu mà các bị cáo tự đi theo HH chỉ có ý căn ngăn chứ không có ý định gây thương tích cho bị hại. Hội đồng xét xử xét thấy, tuy các bị cáo khai nhận từ đoạn đường từ nhà H đến nới xảy ra sự việc, cả nhóm không có sự bàn bạc hay phân công nhiệm vụ để gây thương tích cho anh C1 và anh P, nhưng căn cứ vào hồ sơ vụ án những lời khai người làm chứng mặt tại nhà H vào thời điểm, H nghe chị H2 kể lại sự việc tại quán nước và lời khai của bị cáo L, N, T1, S tại phiên tòa thì có thể xác định sau khi nghe chị H2 kể lại sự việc bị cáo H có nói “đi bây ra coi sao”, chứng tỏ bị cáo có rủ rê các bị cáo còn lại đi tìm anh C1 và anh P nên bị cáo có vai trò rủ rê, cầm đầu vì vậy cần phải có mức hình phạt cao hơn các bị cáo khác để nhằm mục đích răn đe, giáo dục đối với bị cáo.

[3.2] Đối với bị cáo Đặng Quang Minh N : Bị cáo là người không có mâu thuẫn với các bị hại nhưng khi nghe bạn là bị cáo rủ đi thì bị cáo đồng ý ngay và tham gia giúp sức một cách tích cực. Bị cáo N là người duy nhất mang theo nón bảo hiểm với mục đích đánh nhau và là người đầu tiên tấn công bị hại dù chưa hỏi rõ vấn đề mâu thuẫn giữa chị H2 với các bị hại . Điều này đã thể hiện thói hung hăng côn đồ, xem thường pháp luật của bị cáo, nên cần phải có mức hình phạt tù cao hơn các bị cáo khác để nhằm mục đích răn đe, giáo dục đối với bị cáo.

[3.3] Đối với bị cáo Nguyễn Văn L: Bị cáo là người không có mâu thuẫn với bị hại nhưng khi nghe bị cáo H rủ rê thì bị cáo tự nguyện đi theo và tham gia thực hiện hành vi gây thương tích bằng cách sử dụng hung khí là ghế xếp bằng kim loại đánh trực tiếp vào vùng đầu của bị hại P, gây thương tích chính cho bị hại. Với vai trò giúp sức một cách tích cực nên cần phải có mức hình phạt tù cao hơn các bị cáo còn lại để nhằm mục đích răn đe, giáo dục đối với bị cáo.

[3.4] Đối với bị cáo Lê Văn T1Lương Văng Văn Minh S2: Hai bị cáo là người không có mâu thuẫn với bị hại nhưng khi thấy bị cáo H tìm các bị hại thì hai bị cáo tự nguyện đi theo và cùng tham gia với vai trò người giúp sức nên cần phải có mức hình phạt thật tương xứng với hành vi của bị cáo.

[4]. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ chỉ vì có mâu thuẫn nhỏ nhặt trong đời sống giữa các bị hại và chị H2 là người thân của bị cáo H mà các bị cáo đã tấn công người bị hại gây thương tích, dù giữa các bị cáo và người bị hại không trực tiếp phát sinh mâu thuẫn. Hành vi này không những xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của con người được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương nơi các bị cáo thực hiện tội phạm, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Khi thực hiện tội phạm, các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì động cơ cá nhân mà các bị cáo cố ý thực hiện tội phạm. Điều này thể hiện thái độ xem thường pháp luật của các bị cáo. Vì vậy, cần phải xử lý bị cáo mức án thật nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống chung của xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo thành người tốt sống có ích cho xã hội đồng thời ngăn ngừa loại tội phạm này trong tình hình hiện nay.

[6]. Tuy nhiên, các bị cáo đều có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 BLHS, riêng bị cáo N do có bà là người có công với cách mạng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại khoản 2 Điều 51 của BLHS. Bị cáo H đã thay mặt các bị cáo còn lại bồi thường cho người bị hại và được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS. Do đó, Hội đồng xét xử có xem xét cho từng bị cáo khi lượng hình.

[7]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự;

Tịch thu tiêu hủy 02 Cái ghế kim loại sơn màu vàng (loại ghế xếp) lưới màu đen, do không còn giá trị sử dụng;

Đối với nón bảo hiểm mà N sử dụng làm hung khi đánh gây thương tích cho anh P, không thu hồi được do bị vỡ nát sau khi bị cáo đanh anh P.

[8]. Về trách nhiệm dân sự: Hai bị hại đã nhận tiền bồi thường và chi phí khám chữa bệnh từ bị cáo H và không có yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thêm.

[9]. Lời đề nghị của người bào chữa của các bị cáo phù hợp với một phần nhận định của Hội đồng xét xử có xem xét.

[10]. Xét đề nghị của Kiểm sát viên là có cơ sở, phù hợp quy định của pháp luật và một phần nhận định trên của Hội đồng xét xử nên có xem xét đề nghị của Kiểm sát viên.

[11]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Dương Văn H, Nguyễn Văn L, Lương Văn Minh S2, Lê Văn T1, Đặng Quang Minh N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
    1. Áp dụng điểm d khoản 3 Điều 134, điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58, của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Dương Văn H 06(Sáu) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/8/2023.
    2. Áp dụng điểm d khoản 3 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58, của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đặng Quang Minh N 06 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/8/2023.
    3. Áp dụng điểm d khoản 3 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58, của Bộ luật Hình sự . Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 06 ( Sáu) năm03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/8/2023.
    4. Áp dụng điểm d khoản 3 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58, của Bộ luật Hình sự . Xử phạt bị cáo Lê Văn T1 05 (Năm) 06(Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/8/2023.
    5. Áp dụng điểm d khoản 3 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lương Văn Minh S2 05 (Năm) 06(Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/8/2023.
  2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy 02 Cái ghế kim loại sơn màu vàng (loại ghế xếp) lưới màu đen;

Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/4/2024 giữa Công an thành phố M với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho.

Tiếp tục lưu giữ 01 đĩa DVD bên trong chứa dữ liệu điện tử là các đoạn video của camera ghi nhận hình ảnh các bị cáo liên quan đến việc thực hiện hành vi cố ý gây thương tích ngày 02/4/2023 vào hồ sơ vụ án.

  1. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  1. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

  • - TAND TP Mỹ Tho;
  • - VKSND TP Mỹ Tho;
  • - CCTHADS TP Mỹ Tho;
  • - Bị cáo, NNTGTT;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

Cao Thị Trúc Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 79/2024/HS-ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 79/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 21 giờ ngày 02/4/2023, anh Huỳnh Văn Chính và anh Đoàn Văn Phong và chị Đinh Kiều Nương cùng trú tại ấp An Qui, xã Đa Phước Hội, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre, đến xe bán nước giải khát trước nhà có địa chỉ 63/1 Lê Thị Hồng Gấm, phường 6, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang của anh Lương Vĩnh Nghiệp để uống nước. Tại đây, anh Chính có xảy ra cự cãi với chị Nguyễn Thị Cẩm Hương sinh năm 1993 tạm trú tại 12/4 Lê Thị Hồng Gấm, phường 6, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang. Sau đó, chị Hương về nhà nói lại cho Dương Văn Hiền (Biển) nghe đã xảy ra mâu thuận với người đi xe mô tô hiệu Future biển số 71, màu trắng. Lúc này, tại nhà của Hiền có Lê Văn Tý, Nguyễn Văn Linh (Giới), Đặng Quang Minh Nhựt (Quý); Lương Văn Minh Sang và một số người khác đang ngồi ăn uống. Sau khi nghe Hương kể chuyển xảy ra mâu thuận thì Hiền rủ những người có mặt tại nhà đi tìm anh Chính, anh Phong để đánh nên Linh, Nhựt, Sang Tý cùng đi với Hiền. Khi cả nhóm đến trước vị trí xe nước giải khát thì thấy anh Chính, anh Phong và chị Nương đang ngồi uống nước thì cả nhóm vào hỏi xe mô tố hiệu Future của ai, thì anh Phong trả lời là của anh liền bị Nhựt xông vào vật ngã anh Phong xuống đất dùng tay đánh nhiều cái vào vùng mặt của anh Phong. Thấy vậy, Hiền xông vào dùng tay, chân đánh anh Phong. Linh sử dụng ghế xếp bằng kim loại có sẵn tại quán nước đánh vào người anh Chính; Sang sử dụng tay, chân để đánh anh Chính. Nhựt sau đó tiếp tục đánh anh Chính bằng nón bảo hiểm và bằng tay , chân với Nhựt, Linh; Riêng Linh, sau khi đánh anh Chính xong thì Linh sử dụng ghế kim loại đánh vào vùng mặt của anh Phong làm anh Phong té ngã xuống đất ngất xỉu, thấy vậy cả nhóm bỏ đi. Đến ngày 17/8/2023, Hiền, Linh, Nhựt, Sang, Tý bị bắt tạm giam để điều tra làm rõ.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger