Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LẠNG GIANG

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 79/2024/HNGĐ-ST

Ngày 10-12-2024

V/v “tranh chấp ly hôn, con chung"

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Quỳnh Hoa

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Vinh

Ông Nguyễn Văn Thanh

- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Quý Đôn- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Bùi Việt Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 347/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp hôn ly hôn và con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 198/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1982 (có mặt)

Địa chỉ HKTT: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Nơi ở hiện nay: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang

-Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1976 (có mặt)

Địa chỉ HKTT: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Tại đơn xin ly hôn cùng các lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:

-Về quan hệ hôn nhân: Chị kết hôn với anh Nguyễn Văn Q ngày 22/3/2000, trước khi cưới hai bên có tự do tìm hiểu thỏa thuận và đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L. Cưới xong vợ chồng về chung sống tại gia đình anh Q ngay, thời gian đầu tình cảm vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc. Vợ chồng chung sống một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do năm 2001 và năm 2012 anh Q vi phạm pháp luật phải đi chấp hành án, sau khi ra trại trở về địa phương anh Q không tu chí làm ăn mà thường xuyên uống rượu chè về đánh đuổi chị, nên chị đã phải bỏ về nhà mẹ đẻ ở T để ở, vợ chồng sống ly thân cắt đứt mọi quan hệ tình cảm, kinh tế từ đầu tháng 10/2024 đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được chị làm đơn xin được ly hôn với anh Nguyễn Văn Q.

-Về con chung: Vợ chồng chị có hai con chung là Nguyễn Lệ Cẩm X, sinh ngày 18/12/2000 và Nguyễn Quốc Đ, sinh ngày 04/9/2017. Hiện con Nguyễn Lệ Cẩm X đã trưởng thành đi lấy chồng, chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

Đối với con Nguyễn Quốc Đ, sinh ngày 04/9/2017 hiện nay con khỏe mạnh, phát triển bình thường và đang ở cùng chị, vợ chồng ly hôn chị xin được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Về cấp dưỡng nuôi con chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

Ngoài ra chị H trình bày, hiện nay chị đang làm công nhân tại công ty trách nhiệm hữu hạn V công việc ổn định, mức thu nhập bình quân hàng tháng khoảng 7.300.000 đồng, thời gian làm việc cố định giờ hành chính sáng đi tối về, chị đang ở cùng nhà với bố mẹ đẻ chị ở xã T từ khi chị và anh Q sống ly thân đến nay. Chị có đủ điều kiện về thời gian và vật chất để chăm sóc cho con chung là Nguyễn Quốc Đ sau khi ly hôn. Còn phía anh Q hiện nay không có nghề nghiệp và công việc ổn định, anh Q thường xuyên vắng nhà nên không có điều kiện chăm sóc con chung tốt bằng chị.

- Về tài sản, nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Nguyễn Thị H không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa chị Nguyễn Thị H vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày ở trên.

* Tại biên bản lấy lời khai bị đơn anh Nguyễn Văn Q trình bày:

-Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn Q xác nhận lời khai của chị Nguyễn Thị H đã trình bày về quá trình kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là đúng. Quá trình giải quyết vụ án anh Q có lời khai xét thấy tình cảm vợ chồng vẫn còn, anh không đồng ý ly hôn mà mong muốn vợ chồng về đoàn tụ. Tại phiên tòa anh Q đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị Nguyễn Thị H.

-Về con chung: Anh Nguyễn Văn Q xác nhận lời khai của chị Nguyễn Thị H về hai con chung như chị H đã trình bày là đúng. Quá trình giải quyết vụ án anh Q xin được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là Nguyễn Quốc Đ, sinh ngày 04/9/2017. Về cấp dưỡng nuôi con anh không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa anh Q đồng ý giao con chung là Nguyễn Quốc Đ cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc.

- Về tài sản, nghĩa vụ chung về tài sản: Anh Nguyễn Văn Q không đề nghị Tòa án giải quyết.

*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán và Thư ký Tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về phía các đương sự chấp hành nghiêm chỉnh, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 24, Điều 26, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn Q.

- Về con chung: Xử công nhận sự thỏa thuận giao chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là Nguyễn Quốc Đ, sinh ngày 04/9/2017 về cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét giải quyết. Sau khi ly hôn anh Nguyễn Văn Q được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, mà không ai được cản trở.

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề xuất giải quyết về tiền án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án các thủ tục tiến hành tố tụng đảm bảo tuân theo đúng quy định của của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự không có khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Thẩm phán, Thư ký. Do đó các quyết định, hành vi tố tụng của Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa các đương sự đều có mặt, HĐXX tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn Q đăng ký kết hôn ngày 22/3/2000 tại UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang trên cơ sở tự nguyện, hợp pháp. Quá trình chung sống, bản thân chị H và anh Q đều xác nhận trong quan hệ hôn nhân vợ chồng có mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh Q năm 2001 và năm 2012 vi phạm pháp luật phải đi chấp hành án, sau khi ra trại về không tu chí làm ăn, thường xuyên rượu chè về có đánh đuổi chị H, nên chị H phải bỏ về nhà mẹ đẻ ở từ tháng 10/2024 đến nay anh chị sống ly thân từ đó. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị H đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn, phía anh Q trong quá trình giải quyết vụ án có lời khai không đồng ý ly hôn và mong muốn vợ chồng về đoàn tụ. Tại phiên tòa anh Q đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị H.

Hội đồng xét xử xét thấy, chị H và anh Q trong thời gian chung sống vợ chồng không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ với nhau, không thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ mọi việc, không giữ gìn, bảo vệ hạnh phúc gia đình; vợ chồng xảy ra mâu thuẫn xô sát do anh Q đánh đuổi chị H ra khỏi nhà, hiện tại anh chị đã sống ly thân, không quan tâm qua lại, chăm sóc gì cho nhau. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị H, anh Q đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.

Tại phiên tòa chị H và anh Q thuận tình ly hôn. Do vậy, cần áp dụng Điều 55 của Luật hôn nhân và gia đình xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn Q.

[3] Về con chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn Q hai con chung là Nguyễn Lệ Cẩm X, sinh ngày 18/12/2000 và Nguyễn Quốc Đ, sinh ngày 04/9/2017. Hiện con chung là Nguyễn Lệ Cẩm X đã trưởng thành, anh chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

Đối với con chung là Nguyễn Quốc Đ, sinh ngày 04/9/2017 hiện nay khỏe mạnh phát triển bình thường đang ở cùng chị H. Quá trình giải quyết vụ án chị H và anh Q cùng có nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là Nguyễn Quốc Đ.

Tại phiên tòa anh Nguyễn Văn Q thay đổi lời khai đồng ý giao con chung là Nguyễn Quốc Đ cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc.

Tại biên bản lấy lời khai trong hồ sơ vụ án cháu Nguyễn Quốc Đ có nguyện vọng xin được ở cùng chị H khi bố mẹ ly hôn.

HĐXX xét thấy, chị H có nghề nghiệp làm công nhân, mức thu nhập ổn định khoảng 7.300.000 đồng/tháng, thời gian làm việc theo giờ hành chính sáng đi tối về, chị có nơi ở ổn định ở cùng nhà với bố mẹ đẻ ở thôn T, xã T, chị có đủ điều kiện để nuôi con. Xét thấy anh Q có nhân thân xấu năm 2001 và năm 2012 đã từng vi phạm pháp luật phải đi chấp hành án, sau khi ra trại không có việc làm, thu nhập ổn định thường xuyên vắng nhà. Để bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bà mẹ, trẻ em và ổn định tâm lý của trẻ tránh cuộc sống bị sáo trộn. HĐXX xét thấy cần chấp nhận sự tự nguyện thỏa thuận của chị H và anh Q tại phiên tòa, tiếp tục giao con chung là Nguyễn Quốc Đ cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, để chị H có thể chăm sóc, giáo dục con đầy đủ về mặt thể chất và tinh thần là phù hợp với Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình và phù hợp với quy định của pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn Q không đề nghị, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Sau khi ly hôn, anh Nguyễn Văn Q có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định tại Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

[4] Về tài sản, nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn Q không đề nghị, nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.

[5] Về án phí: Tại phiên tòa chị Nguyễn Thị H xin tự nguyện chịu cả tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 24, Điều 26, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận sự tự nguyện thỏa thuận chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0003389 ngày 21/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

[6] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[7] Về ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của HĐXX nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 51, Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 24, Điều 26, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Quan hệ hôn nhân: Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn Q.

2. Về con chung: Công nhận sự tự nguyện thỏa thuận giao chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là Nguyễn Quốc Đ, sinh ngày 04/9/2017. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét giải quyết. Sau khi ly hôn anh Nguyễn Văn Q được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Công nhận sự tự nguyện thỏa thuận chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0003389 ngày 21/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Nguyễn Thị H đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

4.Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lạng Giang;
  • - Chi cục THADS huyện Lạng Giang;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Tân Dĩnh;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Quỳnh Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 79/2024/HNGĐ-ST ngày 10/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp ly hôn, con chung

  • Số bản án: 79/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chị H, anh Q
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger