|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA TỈNH SƠN LA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 79/2024/HS-ST Ngày 10/6/2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thanh Thúy, bà Nguyễn Thị Ngọc Lan.
- Thư ký phiên toà: Bà Hà Mai Chi, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Bằng Phi, Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 77/2024/TLST-HS ngày 07/5/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2024/QĐXXST-HS ngày 28/5/2024 đối với bị cáo:
Lò Minh Đ, sinh ngày 14/5/2004 tại thành phố S, tỉnh Sơn La; nơi thường trú: Bản H, phường T, thành phố S, tỉnh Sơn La; nơi tạm trú, hiện ở: Bản P, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn Ư và bà Tòng Thị Y; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22/02/2024 đến nay. Có mặt.
Bị hại: Anh Cà Văn T, 22 tuổi; nơi cư trú: Bản M, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị T1, 54 tuổi; anh Đặng Đắc H, 26 tuổi; đều trú tại: Tổ G, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La; địa chỉ kinh doanh: Số A, đường T, tổ I, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La. Bà T1, anh H vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ ngày 19/02/2024, Lò Minh Đ đi hát karaoke tại quán karaoke số 5 của bà Nguyễn Thị T1 ở tổ I, phường Q, thành phố S. Đến 21 giờ 05 phút, Đ nghỉ hát nhưng không có tiền để thanh toán số tiền 3.468.000 đồng nên ngồi nhờ để chờ bạn đến thanh toán. Đến khoảng 04 giờ sáng ngày 20/02/2024, Đ viết giấy nợ và nhờ bà T1 cho nhân viên là Lường Văn H1 chở Đ đi lấy tiền để trả. Đ và H1 đến nhà bạn của Đ là Cà Văn T ở bản M, phường C. Đ bảo anh H1 chờ ở ngoài đường, Đ đi bộ vào trong ngõ, vào nhà anh T, cổng không khóa nên Đ vào sân gọi rủ anh T đi hát nhưng anh T không đi. Đ thấy xe mô tô Honda Wave 26B2-71270 của anh T để ở sân, Đ hỏi mượn nhưng anh T không đồng ý, bảo Đ đi về, anh T khép cổng, đóng cửa đi ngủ tiếp. Đ nảy sinh ý định lấy chiếc xe của T để gán nợ tiền hát, thấy chìa khóa vẫn cắm ở xe nên dắt xe ra ngoài cổng, điều khiển xe đi đến quán hát, Đ nói với H1 là xe của bạn, Đ ra quán trước còn bạn tự ra sau. Khi đến quán hát, Đ giao xe cho anh Đặng Đắc H (là con trai của bà T1, quản lý quán hát số E), giao xe cùng giấy đăng ký xe để trong cốp cho anh H để cắm trả tiền hát. Anh H đồng ý, Đ về phòng hát tiếp.
Về phía anh T, khi lên đến tầng 2, nghe tiếng nổ máy xe, kiểm tra phát hiện mất xe, không nhìn thấy người điều khiển nhưng nghi ngờ Đ nên đã cùng bạn Lò Thị Kiều T2 đi tìm ở một số quán hát. Khi đến quán H2, T hỏi lấy lại xe thì Đ nói đã cắm với quán hát để trả tiền hát, nhờ T chở về nhà bố mẹ xin tiền chuộc xe. Bố mẹ Đ không đồng ý cho Đ tiền. Đ nhờ T chở đến nhà bà ở khu vực chợ C và hẹn chiều chuộc xe trả T. Đ tiếp tục đến quán G. T không thấy Đ trả xe, trình báo Công an đề nghị giải quyết theo pháp luật. Đến 17 giờ chiều, khi Đ đang hát tại quán K thì Công an phường C triệu tập làm việc.
Căn cứ lời khai của Đ, Công an phường C đã triệu tập anh Đặng Đắc H. Anh H thừa nhận có nhận của Đ chiếc xe mô tô 26B2-71270 do Đ dùng gán nợ số tiền 3.468.000 đồng tại quán, giao nộp chiếc xe cho Công an phường C.
Cơ quan Công an đã tiến hành khám nghiệm hiện trường nơi anh T để chiếc xe trước khi bị mất, vị trí để xe tại sân nhà, cách điểm chính giữa cổng (loại cổng 4 cánh bằng kim loại) là 4,5 mét.
Tại Kết luận định giá tài sản số 04/KL-HĐĐGTS ngày 21/02/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố S đã kết luận: Tổng giá trị trung bình của 01 xe máy nhãn hiệu Honda wave màu xanh – đen – bạc, BKS 26B2-712.70 tại thời điểm bị chiếm đoạt là 12.500.000 đồng.
Đối với Lường Văn H1 là nhân viên quán chở Đ đến nhà anh T, không biết chiếc xe do Đ trộm cắp.
Đối với anh Đặng Đắc H, qua điều tra đã xác định khi nhận chiếc xe và giấy đăng ký xe, anh H không biết chiếc xe do Đ trộm cắp. Đối với bà Nguyễn Thị T1, là chủ quán hát, biết việc Đ nợ tiền hát, không trực tiếp nhận xe và không biết chiếc xe gán nợ là do Đ trộm cắp. Anh H, bà T1 không yêu cầu, đề nghị giải quyết về trách nhiệm dân sự.
Ngày 14/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại chiếc xe, giấy đăng ký, chìa khóa xe cho anh Cà Văn T. Anh T không có yêu cầu gì khác.
Bản cáo trạng số 158/CT-VKSTP ngày 06/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La truy tố Lò Minh Đ về tội trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử :
1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lò Minh Đ từ 10 tháng đến 13 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Không phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
2. Về vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô BKS 26B2-712.70 cho anh Cà Văn T.
3. Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 21, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo nhất trí với cáo trạng và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt. Bị hại có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; không yêu cầu bồi thường; về hình phạt, bị hại đề nghị xét xử đối với bị cáo theo quy định của pháp luật. Bà T1, anh H có đơn đề nghị xử vắng mặt, không yêu cầu giải quyết về trách nhiệm dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về quá trình tiến hành tố tụng:
Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ, có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, đã có lời khai, ý kiến yêu cầu trong hồ sơ. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vắng mặt.
[2] Về hành vi của bị cáo và trách nhiệm hình sự:
Tại phiên toà, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi. Xét lời khai của bị cáo hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với việc tiếp nhận tin báo tội phạm và lời khai của bị hại, lời khai của những người liên quan, biết sự việc; phù hợp với vật chứng đã thu giữ, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận định giá tài sản. Do vậy,
có đủ căn cứ khẳng định: Ngày 20/02/2024, Lò Minh Đ lén lút chiếm đoạt của anh Cà Văn T 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 26B2-712.70, giá trị còn lại là 12.500.000 đồng (Mười hai triệu năm trăm nghìn đồng). Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La truy tố Lò Minh Đ về tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình xâm phạm sở hữu tài sản của người khác nhưng vẫn thực hiện. Xét cần xử phạt nghiêm khắc nhằm trừng trị và giáo dục bị cáo, răn đe phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản, thu nhập lao động tự do, không áp dụng hình phạt bổ sung – phạt tiền đối với bị cáo.
[3] Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã trả tài sản cho bị hại.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường. Những người liên quan không yêu cầu giải quyết về trách nhiệm dân sự.
[5] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố: Bị cáo Lò Minh Đ phạm tội trộm cắp tài sản.
Xử phạt bị cáo Lò Minh Đ 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 22/02/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
2. Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã trả cho bị hại Cà Văn T 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 26B2-712.70; 01 giấy đăng ký xe, 01 chìa khóa xe mô tô.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Lò Minh Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Hồng Hạnh |
Bản án số 79/2024/HS-ST ngày 10/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 79/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lò Minh Đ
