TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 79/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 10/6/2024
Tranh chấp ly hôn và nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Nguyễn Thanh Huy;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Hoa;
Bà Hà Thị Kim Thu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Mộng Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Thuộc trường hợp Viện kiểm sát không tham gia phiên tòa.
Ngày 10 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 166/2024/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2024 về tranh chấp ly hôn và nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 32/2024/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị H, sinh năm: 1988. Địa chỉ: Tổ A, ấp V, xã T, huyện H, tỉnh Kiên Giang (Có đơn xin vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Bùi Hoàng S, sinh năm: 1987. Địa chỉ: Tổ A, ấp V, xã T, huyện H, tỉnh Kiên Giang (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lê Thị H trình bày như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2007, chị và anh Bùi Hoàng S tự tìm hiểu, yêu thương nhau, sau đó tiến đến hôn nhân được hai bên gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân (UBND) xã T, huyện H, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 58, quyển số 01/2012, ngày 09/5/2012. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị về sinh sống tại tổ A, ấp V, xã T, huyện H, tỉnh Kiên Giang.
Đến khoảng đầu năm 2015, giữa chị và anh S thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, do anh S có người phụ nữ khác. Sau đó, chị cũng bỏ qua để cùng chung sống nuôi con. Đến năm 2020, ang S lại tiếp tục nhắn tin qua lại với người phụ nữ khác, nhưng chị cũng bỏ qua. Đến năm 2023, anh S lại tiếp tục tái diễn nhắn tin với người phụ nữ khác, chị tiếp tục khuyên nhũ anh S từ bỏ để lo cho gia đình, vợ con, nhưng anh S vẫn vậy, không thay đổi, nên vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay. Vì các lý do trên, chị nhận thấy vợ chồng không thể tiếp tục cuộc sống như thế này được được nữa, chị muốn giải thoát cuộc hôn nhân này để mỗi người có cuộc sống mới tốt hơn, nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Bùi Hoàng S.
- Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống với nhau, chị và anh S có hai người con chung tên Bùi Thị Mỹ T, sinh ngày 23/11/2008 và Bùi Hữu T1, sinh ngày 25/02/2013. Từ khi ly thân, con tên Mỹ T sinh sống với chị, nên khi ly hôn, chị yêu cầu tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Còn con tên Hữu T1 sinh sống bên nội cùng với cha (anh S), nên chị đồng ý giao Hữu Trọng cho anh S được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con cho bên nào.
- Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Chị H xác định quá trình chung sống chị và anh S không có tài sản chung, nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Bị đơn anh Bùi Hoàng S:
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, nhưng anh S đều vắng mặt, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh S đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo nội dung đơn khởi kiện chị Lê Thị H yêu cầu được ly hôn và nuôi con với anh Bùi Hoàng S. Xét thấy đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, bị đơn anh Bùi Hoàng S có nơi cư trú cuối cùng tại tổ A, ấp V, xã T, huyện H, tỉnh Kiên Giang, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Lê Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Bùi Hoàng S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nhưng vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, HĐXX quyết định tiến hành xét xử trong trường hợp vắng mặt nguyên đơn và bị đơn tại phiên tòa.
[3] Về nội dung vụ án:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án, HĐXX có cơ sở xác định: Chị Lê Thị H và anh Bùi Hoàng S tự tìm hiểu, yêu thương nhau, sau đó tiến đến hôn nhân được hai bên gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán, có đăng ký kết hôn và được UBND xã T, huyện H, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 58, quyển số 01/2012, ngày 09/5/2012. Như vậy, hôn nhân giữa chị H và anh S là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Xét yêu cầu của chị H về việc xin ly hôn với anh S thấy rằng: Trong quá trình chung sống giữa chị H và anh S có phát sinh mâu thuẫn, mà theo chị H cho rằng do anh S có người phụ nữ khác, chị đã phát hiện anh S nhiều lần nhắn tin tình cảm với nhiều người phụ nữ khác. Chị H cũng bỏ qua để cùng chung sống nuôi con, nhưng anh S không thay đổi, chứng nào tật nấy, nên vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay. Chị H cũng xác định trong thời gian chị và anh S sống ly thân với nhau, thì giữa chị và anh S không còn quan tâm, chăm sóc nhau nữa, cũng không thực hiện quyền và nghĩa vụ chung của vợ chồng.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án, tiến hành giải thích pháp luật và động viên chị H bỏ qua mọi chuyện để hàn gắn, đoàn tụ gia đình, nhưng chị H vẫn kiên quyết ly hôn với anh S. Đồng thời Tòa án cũng tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh S nhiều lần, nhưng anh S vẫn vắng mặt tại Toà, điều này chứng tỏ anh S cũng không muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị H.
Từ đó thấy được mối quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh S đã đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn và mục đích hôn nhân không đạt được, nên việc chị H yêu cầu được ly hôn với anh S là có cơ sở.
Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, HĐXX chấp nhận cho chị H được ly hôn với anh Bùi Hoàng S.
[3.2] Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống với nhau, chị và anh S có hai người con chung tên Bùi Thị Mỹ T, sinh ngày 23/11/2008 và Bùi Hữu T1, sinh ngày 25/02/2013. Hiện nay, con tên Mỹ T đang sinh sống với chị, nên chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Còn con tên Hữu T1, từ khi chị và anh S ly thân, thì Hữu T1 cùng sinh sống bên nội với anh S, nên chị đồng ý giao con tên Hữu T2 cho anh S được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con cho bên nào.
HĐXX xét thấy, từ khi chị H và anh S sống ly thân với nhau cho đến nay, thì chị H là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu T, còn anh S là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu T1, hiện hai cháu vẫn phát triển bình thường. Vì vậy, để đảm bảo ổn định cuộc sống và nhằm giúp cháu T và cháu T1 phát triển tốt về mọi mặt, nên tiếp tục giữ nguyên người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai cháu đến tuổi trưởng thành là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Do các đương sự không yêu cầu, nên HĐXX không giải quyết.
[3.4] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị H xác nhận giữa chị và anh S không tài sản chung và nợ chung, nên chị H không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Do đó, HĐXX không giải quyết.
[4] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, thì chị Lê Thị H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị H được ly hôn với anh Bùi Hoàng S.
2. Về quan hệ con chung: Giao cháu tên Bùi Thị Mỹ T, sinh ngày 23/11/2008 cho chị Lê Thị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành.
Giao cháu tên Bùi Hữu T1, sinh ngày 25/02/2013 cho anh Bùi Hoàng S được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
- Về quyền thăm nom, chăm sóc con chung: Trong thời gian chị Lê Thị H, anh Bùi Hoàng S nuôi con; chị H, anh S được quyền đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở.
3. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị Lê Thị H xác định giữa chị và anh Bùi Hoàng S không tài sản chung và nợ chung, nên chị không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không giải quyết.
4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Buộc chị Lê Thị H phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị H đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000922 ngày 16 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. Chị Lê Thị H không phải nộp thêm.
5. Quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
6. Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lâm Nguyễn Thanh Huy |
Bản án số 79/2024/HNGĐ-ST ngày 10/06/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang về tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 79/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị H kiện Bùi Hoàng S
