|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 79/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 09/9/2024
“V/v tranh chấp hôn nhân và
gia đình, ly hôn, nuôi con chung”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Dương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc Dũng và bà Nguyễn Thị Kiều Trang.
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Tấn Bửu, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Bảo Thịnh - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 169/2024/TLST-HNGĐ ngày 25/4/2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 133/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số 134/2024/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Cao Nhất T, sinh năm 1989; cư trú: Tổ A, ấp L, xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp (có mặt);
Bị đơn: Chị Văn Bảo Y, sinh năm 1991; thường trú: Tổ A, ấp V, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang; đăng ký tạm trú: Nhà trọ Nguyễn Văn G, đường DJ9, tổ A, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Cao Nhất T trình bày: Năm 2009, anh T và chị Y do tự tìm hiểu được gia đình hai bên chấp thuận tổ chức lễ cưới, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp, theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 49/2016 ngày 13/5/2016. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 10 năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung và sống xa nhau từ tháng 10 năm 2022 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không hạnh phúc, không thể hàn gắn được nên anh T yêu cầu được ly hôn với chị Y.
Trong thời kỳ hôn nhân, anh T và chị Y có 01 (một) người con chung tên Cao Kiến T1, sinh ngày 02/4/2019, hiện cháu T1 đang sống cùng với chị Y. Sau khi ly hôn, anh T thống nhất giao con chung cho chị Y tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, anh T không cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án số 305/TB-TLVA ngày 25/4/2024 và các văn bản tố tụng khác cho chị Văn B Yến theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhưng đến nay, chị Y không tham gia tố tụng và cung cấp văn bản ý kiến của mình cho Tòa án.
Quá trình tố tụng, Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ: Xác minh mối quan hệ hôn nhân và gia đình tại ấp V, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang; xác minh nơi cư trú của chị Y tại Công an xã V, thị xã T và Công an phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương (Công an phường T chưa phúc đáp), cụ thể:
- - Ban khóm V, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang cung cấp: Đương sự Văn Bảo Y, sinh năm 1991 có địa chỉ: Tổ A, ấp V, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang có chồng là Cao Nhất T ở Hồ N, tỉnh Đồng Tháp. Vợ chồng Y, T có một con chung tên T1. Hiện nay, Y, cháu T1 và gia đình Y không có mặt tại địa phương. Đối với anh T không thường xuyên sinh sống tại địa phương từ khi kết hôn với chị Y cho đến nay. Do đó, địa phương không biết được cuộc sống hôn nhân của vợ chồng Y, T như thế nào.
- - Công an xã V, thị xã T, tỉnh An Giang cung cấp thông tin như sau: Chị Văn Bảo Y, sinh năm 1991; thường trú: Tổ A, ấp V, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang; đăng ký tạm trú: Nhà trọ Nguyễn Văn G, đường DJ9, tổ A, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương.
Tại phiên tòa, anh T kiên quyết yêu cầu ly hôn với chị Y và đồng ý giao con chung cho chị Y tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, anh T không cấp dưỡng nuôi con chung.
- Phát biểu của Kiểm sát viên:
+ Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử:
Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ việc đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn đã thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về quyền và nghĩa vụ của đương sự. Bị đơn vắng mặt tại các buổi họp và làm việc của Tòa án.
2
+ Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- - Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Cao Nhất T với chị Văn Bảo Y.
- - Về con chung: Chị Y được nuôi dưỡng con chung tên Cao Kiến T1, sinh ngày 02/4/2019; anh T không cấp dưỡng nuôi con chung.
- - Về án phí: Anh T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
*Về tố tụng:
[1] Về thẩm quyền: Anh Cao Nhất T khởi kiện yêu cầu ly hôn với chị Văn Bảo Y. Chị Y có nơi thường trú ấp V, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang. Xét, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn Văn Bảo Y được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng của Tòa án nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn như theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
* Về nội dung:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa anh T và chị Y do tự tìm hiểu có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp, theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 49/2016 ngày 13/5/2016 phù hợp Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên hôn nhân giữa anh T và chị Y là hợp pháp, phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.
Anh T khai, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến tháng 10 năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung và sống xa nhau từ tháng 10 năm 2022 cho đến nay. Nhận thấy, hạnh phúc vợ chồng không còn nên anh T kiên quyết yêu cầu được ly hôn với chị Y. Theo kết quả xác minh tại B ấp V: Chị Văn Bảo Y có chồng là ông Cao Nhất T ở Hồ N, tỉnh Đồng Tháp. Hiện nay, chị Y và gia đình chị Y không có mặt tại địa phương. Đối với anh T không thường xuyên sinh sống tại địa phương từ khi kết hôn với chị Y cho đến nay. Do đó, địa phương không biết được cuộc sống hôn nhân của vợ chồng Y, T như thế nào.
3
Vợ chồng có nghĩa vụ chung thủy, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng hạnh phúc. Vợ chồng anh T và chị Y đã sống xa nhau hơn một năm nay. Tòa án tổ chức hòa giải nhiều lần để tạo điều kiện cho anh T và chị Y hàn gắn tình cảm, nhưng chị Y vắng mặt và không gửi ý kiến bằng văn bản cho Tòa án. Xét thấy, tình trạng vợ chồng anh T và chị Y đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nếu tiếp tục duy trì hôn nhân thì khó xây dựng được gia đình hòa thuận, hạnh phúc và bền vững. Xét, cho anh T ly hôn với chị Y là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[2] Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, anh T và chị Y có 01 (một) người con chung tên Cao Kiến T1, sinh ngày 02/4/2019. Hiện cháu T1 đang sống cùng chị Y nuôi dạy. Sau khi ly hôn anh T thống nhất giao con chung cho chị Y tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, anh T không cấp dưỡng nuôi con chung.
Xét thấy, từ khi anh T và chị Y sống nhau cho đến nay, cháu T1 sống chung với chị Y, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu T1, cuộc sống của cháu cũng ổn định. Xét, giao cháu T1 cho chị Y tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Chị Y cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
[3] Về tài sản chung, nợ chung: Anh T khai, không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[4] Về án phí: Anh T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp. Chị Y không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56, khoản 1 Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 147, khoản 2 Điều 227 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
4
[1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Cao Nhất T.
Anh Cao Nhất T được ly hôn với chị Văn Bảo Y.
Giấy chứng nhận kết hôn số 49/2016 do Ủy ban nhân dân xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp cấp ngày 13 tháng 5 năm 2016 cho anh Cao Nhất T và chị Văn Bảo Y không còn giá trị pháp lý.
[2] Về con chung: Chị Văn Bảo Y được tiếp tục nuôi dạy con chung tên Cao Kiến T1, sinh ngày 02/4/2019 cho đến khi con chung thành niên và có khả năng lao động. Anh T không phải cấp nuôi con chung.
Chị Y cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
[3] Về án phí: Anh Cao Nhất T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007979 ngày 24/4/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang. Anh T đã nộp đủ án phí.
Chị Văn Bảo Y không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
[4] Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh T có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Thời hạn kháng cáo của chị Y là 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thùy Dương |
5
6
Bản án số 79/2024/HNGĐ-ST ngày 09/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 79/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: T ly hôn với Y
