|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG ————— |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————— |
|
Bản án số: 79/2024/DS-ST Ngày: 09-8-2024 V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hữu Phúc
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Ngọc Kiều
- Ông Trương Thành Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Đào - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: bà Trần Thị Mỹ Phương – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 123/2023/TLST-DS ngày 10 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 196/2024/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 185/2024/QĐST-DS ngày 23 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V (V1)
Địa chỉ: Số H L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: ông Ngô Chí D - Chủ tịch HĐQT
Người đại diện theo ủy quyền: ông Đỗ Thành T – Phó Giám đốc trung tâm thu hồi nợ KHDN và Xử lý nợ Pháp lý.
Ông Đỗ Thành T ủy quyền lại cho ông Trần Minh T1, chuyên viên xử lý nợ, tham gia tố tụng theo văn bản ủy quyền số 24/2023/UQ-VPB ngày 30/10/2023.
Địa chỉ nơi làm việc: tầng 2, số B T, phường M thành phố L, tỉnh An Giang.
- Bị đơn: bà Nguyễn Thị Phương N, sinh năm: 1996
Địa chỉ: ấp H, xã H, huyện C, tỉnh An Giang.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1965 (Theo giấy ủy quyền ngày 14/11/2023) (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp H, xã H, huyện C, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 16/6/2023, đại diện nguyên đơn Ngân hàng TMCP V trình bày: Bà Nguyễn Thị Phương N có vay của ngân hàng TMCP V - Chi nhánh A theo các hợp đồng, gồm:
- Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2111024627033 ngày 06/11/2021, số tiền vay 900.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng, lãi suất thỏa thuận trong khế ước nhận nợ, mục đích bổ sung vốn mua bán tạp hóa, quá trình thực hiện hợp đồng bà Nguyễn Thị Phương N vi phạm thỏa thuận, tính đến ngày 21/6/2023 bà Nguyễn Thị Phương N còn nợ ngân hàng TMCP V số tiền 1.038.273.498 đồng, bao gồm nợ gốc là 889.936.776 đồng và nợ lãi là 148.336.722 đồng.
- Hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 05/7/2021, số tiền vay là 200.000.000 đồng, thời hạn vay 36 tháng, lãi suất thỏa thuận, mục đích vay mua đồ gia dụng. Quá trình thực hiện hợp đồng bà Nguyễn Thị Phương N vi phạm thỏa thuận. Tính đến ngày 21/6/2023 bà Nguyễn Thị Phương N còn nợ ngân hàng TMCP V số tiền 158.295.067 đồng, gồm nợ gốc là 126.741.140 đồng và nợ lãi là 31.553.927 đồng.
- Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ngày 03/12/2020, hạn mức 45.000.000 đồng, thời hạn duy trì hạn mức 60 tháng, lãi suất thỏa thuận, mục đích tiêu dùng. Quá trình thực hiện hợp đồng bà Nguyễn Thị Phương N vi phạm nghĩa vụ, tính đến ngày 21/6/2023 bà Nguyễn Thị Phương N còn nợ ngân hàng TMCP V số tiền 42.128.566 đồng, gồm nợ gốc 40.739.807 đồng, nợ lãi 1.388.759 đồng.
Để đảm bảo khoản vay bà Nguyễn Thị Phương N đã thế chấp một quyền sử dụng đất diện tích 652,2m² tọa lạc tại xã H, huyện C, tỉnh An Giang, thuộc giấy chứng nhận số CS10664 ngày 14/10/2020 theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1444 ngày 27/10/2020 giữa bà Nguyễn Thị Phương N và ngân hàng TMCP V.
Tổng cộng 03 khoản vay bà Nguyễn Thị Phương N còn nợ ngân hàng TMCP V số tiền 1.238.697.131 đồng, gồm nợ gốc là 1.057.417.723 đồng, nợ lãi là 181.279.408 đồng. Ngân hàng TMCP V khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Phương N thanh toán số tiền trên, tiếp tục tính lãi theo thỏa thuận cho đến khi bà Nguyễn Thị Phương N thanh toán xong toàn bộ số nợ. Trường hợp bà Nguyễn Thị Phương N không thanh toán số nợ trên thì ngân hàng TMCP V có quyền yêu cầu phát mãi tài sản bảo đảm theo hợp đồng thế chấp số 1444 ngày 27/10/2020 để thu hồi nợ.
* Tại bản trình bày ý kiến ngày 24/10/2023 bà Nguyễn Thị Phương N xác nhận có nợ ngân hàng TMCP V nhưng xin gia hạn 06 tháng để thu xếp trả nợ, hết thời hạn nếu bà không thanh toán xong thì đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa,
- Đại diện nguyên đơn ông Trần Minh T1 rút lại một phần yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bà Nguyễn Thị Phương N trả cho Ngân hàng TMCP V số tiền vốn gốc là 1.016.677.916 đồng và lãi tính đến ngày 09/8/2024 là 360.545.867 đồng theo Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2111024627033 ngày 06/11/2021 và Hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 05/7/2021, tiếp tục tính lãi theo thỏa thuận trong các hợp đồng này giữa ngân hàng TMCP V và bà Nguyễn Thị Phương N đối với nợ gốc chưa thanh toán cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
Trường hợp bà Nguyễn Thị Phương N không trả nợ hoặc trả không đủ số tiền nợ của Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2111024627033 ngày 06/11/2021, Hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 05/7/2021 thì Ngân hàng TMCP V có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất diện tích 652,2m² tọa lạc tại xã H, huyện C, tỉnh An Giang, thuộc giấy chứng nhận số CS10664 cấp ngày 14/10/2020, thửa số 222, tờ bản đồ số 55 đứng tên Nguyễn Thị Phương N theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất được lập ngày 27/10/2020 tại Văn phòng C tỉnh An Giang để thu hồi nợ.
Rút lại yêu cầu đối với Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ngày 03/12/2020, hạn mức 45.000.000 đồng để thỏa thuận với bị đơn, trường hợp không thỏa thuận được sẽ khởi kiện trong vụ án khác.
- Bị đơn Nguyễn Thị Phương N và người đại diện Nguyễn Văn T2 vắng mặt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu:
- + Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn, bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- + Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn trả số tiền vốn gốc là 1.016.677.916 đồng và lãi tính đến ngày 09/8/2024 là 360.545.867 đồng, tiếp tục tính lãi theo thỏa thuận trong các Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2111024627033 ngày 06/11/2021, Hợp đồng mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 05/7/2021 đối với nợ gốc. Trường hợp bà Nguyễn Thị Phương N không trả nợ hoặc trả không đủ số nợ thì ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự phát mãi tài sản bảo đảm để thi hành án, đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện mà nguyên đơn đã rút lại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
1.1 Về quan hệ pháp luật: Ngân hàng TMCP V và bà Nguyễn Thị Phương N xác lập quan hệ vay vốn thông qua các hợp đồng cho vay hạn mức ngắn hạn, tuy nhiên bà Nguyễn Thị Phương N không có đăng ký kinh doanh nên tranh chấp giữa Ngân hàng TMCP V và bà Nguyễn Thị Phương N được xác định là tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.
1.2 Về thẩm quyền giải quyết: bà Nguyễn Thị Phương N thường trú tại ấp H, xã H, huyện C, tỉnh An Giang nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
1.3 Về sự có mặt của đương sự: đại diện bị đơn ông Nguyễn Văn T2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về nội dung tranh chấp:
2.1 Căn cứ vào lời trình bày của đương sự và các chứng cứ có trong hồ sơ là: bản sao khế ước nhận nợ và Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2111024627033 ngày 06/11/2021 có chữ ký của bà Nguyễn Thị Phương N và đại diện Ngân hàng TMCP V đã xác định bà Nguyễn Thị Phương N có vay của Ngân hàng TMCP V số tiền 900.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng, mục đích vay: bổ sung vốn kinh doanh, lãi trong hạn 08%/năm cố định 03 tháng sau đó được điều chỉnh, lãi quá hạn 150% lãi suất trong hạn; Bản sao Hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 05/7/2021 có chữ ký của bà Nguyễn Thị Phương N và đại diện Ngân hàng TMCP V đã xác định bà Nguyễn Thị Phương N có vay của Ngân hàng TMCP V số tiền 200.000.000 đồng, thời hạn vay 36 tháng, lãi suất thỏa thuận, mục đích vay mua đồ gia dụng. Sự thỏa thuận giữa Ngân hàng TMCP V và bà Nguyễn Thị Phương N là hoàn toàn tự nguyện, mục đích và nội dung thỏa thuận không trái đạo đức, pháp luật nên được xem là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ khi xảy ra tranh chấp. Quá trình thực hiện hợp đồng bà Nguyễn Thị Phương N vi phạm thỏa thuận, tính đến ngày xét xử sơ thẩm bà Nguyễn Thị Phương N còn nợ Ngân hàng TMCP V số tiền vốn gốc theo tất cả các hợp đồng là 1.016.677.916 đồng, việc vi phạm thỏa thuận này đã làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, nguyên đơn yêu cầu bà Nguyễn Thị Phương N thanh toán toàn bộ vốn gốc còn nợ là phù hợp nên được hội đồng xét xử chấp nhận.
Do đó, căn cứ vào Điều 463, khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V, buộc bà Nguyễn Thị Phương N có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP V số tiền vốn gốc còn nợ là 1.016.677.916 đồng (một tỷ không trăm mười sáu triệu sáu trăm bảy mươi bảy ngàn chín trăm mười sáu đồng).
2.2 Về lãi suất:
Căn cứ Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2111024627033 ngày 06/11/2021, Hợp đồng mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 05/7/2021 giữa Ngân hàng TMCP V và bà Nguyễn Thị Phương N xác định lãi suất thỏa thuận cho vay hạn mức tại thời điểm giải ngân là 08%/năm, lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn, có điều chỉnh lãi suất theo thị trường, lãi suất khoản vay thanh toán, dịch vụ ngân hàng điện tử là 20%/năm tại thời điểm giải ngân, có điều chỉnh lãi suất theo thị trường. Quá trình thực hiện hợp đồng bà Nguyễn Thị Phương N vi phạm hợp đồng, nay Ngân hàng TMCP V yêu cầu tính lãi theo thỏa thuận đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 09/8/2024) với số tiền 360.545.867 đồng (ba trăm sáu mươi triệu năm trăm bốn mươi lăm ngàn tám trăm sáu mươi bảy đồng), đồng thời tiếp tục tính lãi trên nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi thỏa thuận từ ngày xét xử đến khi bà Nguyễn Thị Phương N thanh toán xong toàn bộ số nợ là phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
2.3 Về biện pháp bảo đảm:
Ngày 27/10/2020 Ngân hàng TMCP V và bà Nguyễn Thị Phương N ký kết hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất tại Văn phòng C tỉnh An Giang, số công chứng 1444 với nội dung thế chấp quyền sử dụng đất diện tích 652,2m² tọa lạc tại ấp H, xã H, huyện C, tỉnh An Giang, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS10664 cấp ngày 14/10/2020, thửa số 222, tờ bản đồ số 55 đứng tên Nguyễn Thị Phương N để đảm bảo cho hợp đồng cho vay số LN2111024627033 ngày 06/11/2021 và tất cả các hợp đồng cho vay ký giữa Ngân hàng TMCP V và bà Nguyễn Thị Phương N phát sinh trong tương lai.
Xét thấy thỏa thuận của các bên trong hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số ngày 27/10/2020 là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, tài sản bảo đảm được đăng ký thế chấp tại Văn phòng Đ – chi nhánh C1, tỉnh An Giang ngày 27/10/2020 nên phát sinh hiệu lực đối với các bên liên quan.
Căn cứ biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 10/5/2024 trên diện tích bà Nguyễn Thị Phương N thế chấp cho Ngân hàng TMCP V có tài sản là một căn nhà diện tích khoảng 50m², kết cấu nhà cất trên cọc, sàn ván, khung cột gỗ, vách thiết, mái tole; một nhà xe diện tích khoảng 20m² kết cấu nền xây bó gạch, khung sắt, mái tole, không vách; một nhà vệ sinh diện tích khoảng 3m², kết cấu xây gạch, mái tole, nền lót gạch tách biệt với nhà chính; một tường gạch D10, dài 12m, cao 1,5m; một hàng rào lưới B40 bao quanh hết đất, giáp với tường gạch, tất cả tài sản trên đều thuộc quyền sở hữu của bà Nguyễn Thị Phương N.
Xét thấy các tài sản nói trên chưa đăng ký quyền sở hữu tuy nhiên căn cứ khoản 1 Điều 325 Bộ luật dân sự các tài sản trên đều thuộc quyền sở hữu của bà Nguyễn Thị Phương N nên đều là tài sản được xử lý, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ngày 27/10/2020 có nội dung và hình thức phù hợp với quy định pháp luật nên có hiệu lực pháp luật, do đó Ngân hàng TMCP V yêu cầu trong trường hợp bà Nguyễn Thị Phương N không trả nợ hoặc trả không đủ số tiền nợ của Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2111024627033 ngày 06/11/2021, Hợp đồng mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 05/7/2021, thì Ngân hàng TMCP V có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất diện tích diện tích 652,2m² tọa lạc tại ấp H, xã H, huyện C, tỉnh An Giang, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS10664 cấp ngày 14/10/2020, thửa số 222, tờ bản đồ số 55 đứng tên Nguyễn Thị Phương N theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất được lập ngày 27/10/2020 để thu hồi nợ là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
2.4 Tại phiên tòa đại diện nguyên đơn rút lại yêu cầu khởi kiện đối với Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ngày 03/12/2020, hạn mức 45.000.000 đồng để thỏa thuận với bị đơn. Xét thấy việc rút lại một phần yêu cầu khởi kiện của đại diện nguyên đơn là tự nguyện nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu đã rút.
[3] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ:
Căn cứ Điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự, do yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng TMCP V được chấp nhận nên bị đơn bà Nguyễn Thị Phương N phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, số tiền là 1.300.000 đồng (một triệu ba trăm ngàn đồng). Số tiền này nguyên đơn đã nộp tạm ứng nên cần buộc bị đơn hoàn trả lại cho nguyên đơn.
[4] Về án phí sơ thẩm:
Căn cứ vào quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 18, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- - Nguyên đơn được chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
- - Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[5] Quyền kháng cáo:
Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 227, Điều 228, Điều 244, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 320, Điều 321, Điều 322, điều 323, Điều 327, Điều 357, Điều 463, khoản 1 và khoản 5 Điều 466, khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự; Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 8a, Điều 12 nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/6/2006 được sửa đổi, bổ sung bởi nghị định 83/2010/NĐ-CP ngày 23/7/2010 và nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V.
- Trường hợp bà Nguyễn Thị Phương N không trả nợ hoặc trả không đủ số tiền nợ của Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2111024627033 ngày 06/11/2021, Hợp đồng mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 05/7/2021, thì Ngân hàng TMCP V có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất diện tích 652,2m² tọa lạc tại ấp H, xã H, huyện C, tỉnh An Giang, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS10664 cấp ngày 14/10/2020, thửa số 222, tờ bản đồ số 55 đứng tên Nguyễn Thị Phương N theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất lập tại Văn phòng C tỉnh An Giang, số công chứng 1444, ngày 27/10/2020 để thu hồi nợ.
- Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu về Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ngày 03/12/2020, hạn mức 45.000.000 đồng.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Buộc bà Nguyễn Thị Phương N hoàn trả cho Ngân hàng TMCP V số tiền 1.300.000 đồng (một triệu ba trăm ngàn đồng).
- Về án phí sơ thẩm:
- Quyền kháng cáo: Ngân hàng TMCP V, ông Trần Minh T1 có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ tuyên án (ngày 09/8/2024); bà Nguyễn Thị Phương N và ông Nguyễn Văn T2 có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
Buộc bà Nguyễn Thị Phương N có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP V số tiền vốn gốc là 1.016.677.916 đồng (một tỷ không trăm mười sáu triệu sáu trăm bảy mươi bảy ngàn chín trăm mười sáu đồng) và tiền lãi là 360.545.867 đồng (ba trăm sáu mươi triệu năm trăm bốn mươi lăm ngàn tám trăm sáu mươi bảy đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền vốn gốc còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2111024627033 ngày 06/11/2021, Hợp đồng mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 05/7/2021 giữa Ngân hàng TMCP V và bà Nguyễn Thị Phương N.
- Ngân hàng TMCP V được nhận lại số tiền 24.580.000 đồng (hai mươi bốn triệu năm trăm tám mươi ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004525 ngày 10/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
- Bà Nguyễn Thị Phương N phải chịu 53.316.000 đồng (năm mươi ba triệu ba trăm mười sáu ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đỗ Hữu Phúc |
Bản án số 79/2024/DS-ST ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 79/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện
