|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 79/2024/HS-ST Ngày 09-01-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ninh Thị Khánh Tân
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồng Vân
Bà Hoàng Thị Nga
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Yến – Thư ký TAND thành phố Thanh Hóa.
- Đại diện VKSND thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Hồng N - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 88/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/2023/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Trần Quang N1; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 01/7/1974, tại Thanh Hóa; Nơi thường trú và chỗ ở: 0 D, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Bố: Trần Quang C; Mẹ: Trần Thị L (đều đã chết); Gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ tư; Vợ: Nguyễn Thị H - SN 1978 (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2003; Tiền án: Ngày 29/9/2016 bị TAND thành phố Thanh Hóa xử phạt 27 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong án phạt tù ngày 14/3/2018; Ngày 24/6/2019 bị TAND thành phố Thanh Hóa xử phạt 04 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (bản án xác định bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm). Chấp hành xong án phạt tù ngày 20/12/2022; Tiền sự: không; Nhân thân: Năm 2012 bị TAND thành phố Thanh Hóa xử phạt 05 tháng tù về tội “Đánh bạc”; Chấp hành xong án phạt tù ngày 16/01/2012.
Bị cáo bị tạm giữ kể từ ngày 20/9/2023 đến ngày 26/9/2023 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20h45' ngày 20/9/2023 Tổ công tác Công an phường Đ phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố T tiến hành kiểm tra nhà ở của Trần Quang N1 tại địa chỉ 0 D, phường Đ, thành phố T. Khi kiểm tra, Trần Quang N1 đã tự giác giao nộp 10 túi nilon màu trắng viền xanh, kích thước mỗi túi khoảng (3x3)cm, bên trong mỗi túi đều chứa 10 viên nén màu đỏ; 13 túi nilon màu trắng có viền đỏ, kích thước mỗi túi khoảng (2,5x2,5)cm, bên trong mỗi túi đều chứa 05 viên nén màu đỏ; 01 túi nilon màu trắng viền đỏ, kích thước khoảng (2,5x2,5)cm, bên trong chứa 04 viên nén màu xanh và 01 viên nén màu đỏ (tổng 170 viên nén); 01 túi nilon màu trắng viền đỏ, kích thước khoảng (4x8)cm, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng, Nguyên khai nhận là ma túy đang cất giấu để bán kiếm lời. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Quang N1 về hành vi mua bán trái phép chất ma tuý, thu giữ, niêm phong số ma túy để phục vụ công tác điều tra.
Về nguồn gốc ma tuý, Nguyên khai khoảng 15h ngày 20/9/2023 N1 một mình đi xe ôm đến khu vực nghĩa trang xã H, huyện H gặp một người đàn ông tên M không rõ địa chỉ mua 01 gói chứa 170 viên ma túy loại hồng phiến và 01 gói ma túy đá với tổng số tiền 8.000.000đ đem về nhà cất giấu mục đích để bán kiếm lời thì bị phát hiện bắt quả tang.
Kết quả giám định của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận 166 viên nén màu đỏ có tổng khối lượng là 16,541g, là ma túy loại Methamphetamine; 04 viên nén màu xanh có tổng khối lượng là 0,388g, là ma túy loại Methamphetamine; Các hạt tinh thể màu trắng trong 01 túi nilon màu trắng có tổng khối lượng là 2,546g, là ma túy loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra, Trần Quang N1 đã thành khẩn khai báo, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập.
Về vật chứng vụ án: Sau giám định, Cơ quan giám định đã hoàn lại mẫu vật giám định. Tất cả được đựng trong một phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Nguyễn Trần Đ, Trần Thị T và các hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T.
Cáo trạng số 24/CT-VKSTPTH ngày 05/12/2023 của Viện kiểm sát nhân thành phố Thanh Hóa truy tố bị cáo Trần Quang Nguyên về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm i, q khoản 2 Điều 251của Bộ luật hình sự .
Tại phiên tòa,
Bị cáo Trần Quang N1 đã khai nhận toàn bộ hành vi đúng như nêu trên, phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trần Quang N1. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Trần Quang N1 từ 12 năm đến 13 năm tù.
Về hình phạt bổ sung: đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Trần Quang N1.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong.
Về án phí: Đề nghị áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14; buộc bị cáo Trần Quang N1 phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo luật định
Bị cáo Trần Quang N1 không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Viện kiểm sát. Tại lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo được sớm trở về với xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên toà, bị cáo Trần Quang N1 đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo thống nhất với lời khai của người chứng kiến về hành vi đã thực hiện, thời gian, địa điểm, vật chứng thu được và các chứng cứ khác phản ánh tại hồ sơ, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 20h45' ngày 20/9/2023 tại số nhà C D, phường Đ, thành phố T, Trần Quang N1 đã có hành vi cất giấu 19,475g ma túy loại Methamphetamine với mục đích bán kiếm lời thì bị phát hiện bắt quả tang.
Bị cáo N1 có 2 tiền án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội nên xác định là trường hợp tái phạm nguy hiểm.
Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố bị cáo Trần Quang N1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm, hình phạt được quy định tại điểm i, q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi: Hành vi của bị cáo Trần Quang N1 là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quy định của Nhà nước về chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy, xâm phạm đến trật tự trị an, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội, dẫn đến ảnh hưởng sức khỏe của con người, cũng là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Bản thân bị cáo đã 03 lần bị xét xử về hành vi phạm tội của mình, trong đó có 02 lần bị xét xử về hành vi mua bán trái phép chất ma túy đến nay chưa được xóa án tích, bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân thành người có ích cho gia đình và xã hội mà lại tiếp tục phạm tôi. Do đó cần phải xử lý nghiêm, có hình phạt phù hợp nhằm răn đe, giáo dục bị cáo, giáo dục chung cho xã hội.
[4] Xét nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Nhân thân: Năm 2012 bị TAND thành phố Thanh Hóa xử phạt 05 tháng tù về tội “Đánh bạc”; Chấp hành xong án phạt tù ngày 16/01/2012.
[5] Về vật chứng: Ma túy là chất cấm tự do lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao gói.
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, chưa bán được ma túy nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo
[7] Về các vấn đề khác: Đối với người đàn ông làm nghề xe ôm chở N1 đi mua ma túy, bị cáo khai không biết tên, địa chỉ. Đối với người đàn ông ở khu vực nghĩa trang xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa mà Trần Quang Nguyên k bán ma túy cho N1, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, nhưng không xác định được người có đặc điểm như Nguyên khai báo, ngoài lời khai của N1 không có tài liệu nào khác nên không có căn cứ để xử lý, là phù hợp.
[8] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điểm i, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật hình sự.
Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 332; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Trần Quang N1 phạm tội : “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Trần Quang N1 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/9/2023.
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định trong phong bì ma túy niêm phong của Phòng K - Công an tỉnh T, có hình dấu của Phòng K kèm chữ ký, chữ viết của Nguyễn Trần Đ, Trần Thị T. Vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa theo biên bản giao nhận vật chứng số 59/2024/THA ngày 13/12/2023.
Về án phí: Buộc bị cáo Trần Quang N1 phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ninh Thị Khánh Tân |
Bản án số 79/2024/HS-ST ngày 09/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 79/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Quang N mua bán trái phép chất ma túy
