Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRÀ CÚ

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2024/HS-ST

Ngày 07-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Truyền

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Ngô Văn Chiến

Ông Võ Văn Đầy

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Chế Linh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Tú, Kiểm sát viên

Ngày 07 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 63/2024/TLST-HS, ngày 02 tháng 8 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 81/2023/QĐXXST-HS, ngày 28 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

Tạ Minh Đ, sinh ngày 01/01/1999, tại huyện T, tỉnh Trà Vinh; Nơi cư trú và ở trước khi bị bắt ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch Việt Nam; con ông Tạ Triều N, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị Xuân M, sinh năm 1975; bị cáo sống chung như vợ chồng với bà Trầm Thị Bích D, sinh năm 1995; con có 03 người, lớn nhất sinh năm 2017, nhỏ nhất sinh năm 2023; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Chưa từng bị kết án và chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; Bị cáo bị tạm giữ ngày 07/3/2024 đến ngày 16/3/2024 chuyển tạm giam cho đến nay, có mặt.

Thạch Ngọc H, sinh ngày 29/9/1998, tại huyện T, tỉnh Trà Vinh; Nơi cư trú và ở trước khi bị bắt ấp B Dơi B, xã K, huyện T, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch Việt Nam; con ông Thạch Ngọc P, sinh năm 1975 và bà Thái Thị P1, sinh năm 1975; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Chưa từng bị kết án và chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 21/3/2024 cho đến nay, có mặt.

2

- Người bào chữa cho bị cáo Tạ Minh Đ: Bà Trần Thị H1, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T, có mặt.

- Người làm chứng:

Ông Thạch Chí C, sinh năm 2003. Nơi cư trú ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh, vắng mặt

Ông Thạch N1, sinh năm 2000. Nơi cư trú ấp B Dơi B, xã K, huyện T, tỉnh Trà Vinh, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngày 07/3/2024, nhận được tin báo của quần chúng nhân, với nội dung là tại nơi ở của bị cáo Tạ Minh Đ, địa chỉ ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh có một số đối tượng đang tụ tập sử dụng trái phép chất ma túy. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T kết hợp với Công an xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh tiến hành kiểm tra tại địa chỉ nêu trên. Kết quả là phát hiện các bị cáo Tạ Minh Đ; Thạch Ngọc H; ông Thạch Chí C, sinh ngày 07/01/2003 nơi thường trú và nơi ở hiện tại ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh và ông Thạch N1, sinh ngày 01/01/2000 nơi thường trú và nơi ở hiện tại ấp B Dơi B, xã K, huyện T, tỉnh Trà Vinh đang có mặt tại nhà bị cáo Đ và có biểu hiện vừa sử dụng trái phép chất ma túy. Cơ quan điều tra đã tiến hành test nhanh ma túy đối với các bị cáo Đ, H và ông Thạch N1, ông Thạch Chí C, kết quả là Đ, H, N1 dương tính với ma túy. Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của bị cáo Đ, kết quả đã phát hiện và thu giữ: 01 (một) ống nỏ thủy tinh, đã qua sử dụng và bị bể phần đầu tròn, bên trong có chứa chất nghi là chất ma túy phát hiện trên mái nhà vệ sinh mà bị cáo H cất giấu trước đó; Trong ngăn tủ nhà trước phát hiện 01 (một) bịch nhựa trong suốt bên trong có chứa chất tinh thể nghi là chất ma túy do bị cáo Đ sử dụng ma túy nhiều lần trước đó còn để lại; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy do bị cáo Đ tự chế có đặc điểm: Phần dưới làm bằng ly thủy tinh, phần trên làm bằng nhựa có nắp màu đỏ, phía trên nắp có 02 lỗ được gắn 01 ống hút bằng nhựa màu trắng và 01 ống thủy tinh (ống nỏ), bên trong ống nỏ có chứa chất nghi là chất ma túy, bị cáo Đ cất giấu trước khi bị Cơ quan điều tra phát hiện, các đồ vật trên đã được niêm phong để phục vụ công tác giám định.

Căn cứ vào Bản kết luận giám định số: 120/KL-KTHS ngày 12/03/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:

- Bên trong 01 (một) ống thủy tinh (nỏ) được niêm phong ký hiệu NS3. 1903407 gửi giám định có tìm thấy ma túy, loại Methamphetamine, dạng vết không xác định được khối lượng.

- Bên trong 01 (một) ống thủy tinh (nỏ) được niêm phong ký hiệu NS3. 1903408 gửi giám định có tìm thấy ma túy, loại Methamphetamine, dạng vết không xác định được khối lượng.

- Bên trong 01 (một) bịch nhựa được niêm phong ký hiệu NS2. 1901729 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, dạng vết không xác định được khối lượng (bút lục số 54 đến số E).

3

Quá trình điều tra xác định bị cáo Đ và bị cáo H đã thực hiện hành vi phạm tội cụ thể như sau: Ngày 06/3/2024 thông qua mạng xã hội Facebook, bị cáo Đ đã lên hệ với 01 (một) người nam thanh niên không rõ thông tin nhân thân cụ thể để mua ma túy với giá tiền 400.000 đồng về sử dụng. Sau khi thỏa thuận mua bán ma túy xong, người nam thanh niên này hẹn gặp nhau tại khu vực công viên gần Trường Trung học cơ sở thị trấn Đ thuộc thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Khi Đ đến điểm hẹn thì có một người nam thanh niên đến bán ma túy cho bị cáo như đã thỏa thuận trước đó. Ngoài ra, bị cáo Đ đã xin nam thanh niên đó 01 (một) ống nỏ thủy tinh để sử dụng số ma túy đã mua được. Sau khi mua được ma túy và có được ống nỏ để sử dụng ma túy, bị cáo đem về nhà cất giấu. Cùng ngày 06/3/2024, bị cáo đã gắn ống nỏ thủy tinh xin được vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy của bị cáo tự chế. Sau đó, bị cáo tự cắt đoạn ống hút chứa ma túy vừa mua được đổ vào trong ống nỏ một phần và bị cáo sử dụng một mình tại nhà. Tuy nhiên, trong lần sử dụng ma túy này, bị cáo không sử dụng hết chất ma túy đã đổ vào trong ống nỏ mà còn lại một lượng ma túy đọng dưới đáy ống nỏ trong bộ dụng cụ sử dụng. Riêng số ma túy còn lại trong đoạn ống hút nhựa đã mua, bị cáo Đ hàn kín lại và cất giấu.

Đến ngày 07/3/2024, bị cáo Thạch Ngọc H thông qua ứng dụng mạng xã hội Facebook nhắn tin cho bị cáo Đ thỏa thuận mua ma túy từ bị cáo Đ với giá tiền 150.000 (một trăm năm mươi nghìn) đồng và sử dụng tại nhà của bị cáo Đ và bị cáo Đ đã đồng ý. Do bị cáo H muốn mua thêm chất ma túy để sử dụng nhưng không đủ tiền. Bị cáo H đã thông qua mạng xã hội facebook, nhắn tin cho ông Thạch N1 với nội dung “còn mấy chục không cho mượn”. Mục đích của bị cáo H là hỏi mượn ông N1 50.000 đồng, cộng chung với số tiền mà bị cáo đang có là 150.000 đồng cho đủ 200.000 đồng để mua ma túy của bị cáo Đ. Tuy nhiên, ông N1 không có tiền nên đã trả lời thông qua tin nhắn cho bị cáo H biết nội dung là “Không có tiền”. Bị cáo H nghĩ ông N1 không biết bị cáo mượn tiền để mua ma túy của bị cáo Đ, nên bị cáo H có chụp màn hình điện thoại đoạn tin nhắn thỏa thuận mua ma túy giữa bị cáo với bị cáo Đ và gửi qua tin nhắn cho ông N1 xem. Tuy nhiên, thời điểm này do bận công việc, ông N1 không sử dụng điện thoại nên không đọc được nội dung tin nhắn của bị cáo H nên không trả lời cho bị cáo H biết. Do không nhận được tin nhắn trả lời của ông N1 nên bị cáo H sử dụng xe mô tô Sirius màu xanh đen, biển số 84G1-302.77 của cha ruột bị cáo là ông Thạch Ngọc P, sinh ngày 01/01/1975, nơi thường trú và nơi ở hiện tại: ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh, một mình điều khiển đi đến nhà của Thạch N1. Khi gặp ông N1 đang ở nhà một mình, bị cáo H đã hỏi ông N1 nội dung “sao không trả lời tin nhắn?”. Ông N1 trả lời “đang làm đồ ăn không trả lời được”, bị cáo H nói tiếp với ông N1 là “Đức chịu bán ma túy cho rồi”. Sau đó, bị cáo H với ông N1 cùng rủ nhau đi đến nhà của bị cáo Đ để sử dụng ma túy.

Khi cả hai đến nhà của bị cáo Đ thì đi vào trong nhà từ hướng cửa nhà sau và cùng đi đến ngồi tại dãy ghế được để gần cái bàn đặt tại căn nhà trước. Thời điểm này, chỉ một mình bị cáo Đ đang ở nhà và đang ở trong phòng ngủ của bị cáo. Khi nhìn thấy bị cáo H và ông N1 đến, bị cáo Đ đi từ trong phòng của mình và mang ra bộ dụng cụ sử dụng ma túy của bị cáo đang có sẵn ma túy còn dư lại trong ống nỏ mà vào ngày 06/03/2024 bị cáo sử dụng chưa hết cùng với các đồ vật gồm: 01 (một) cái bật lửa đã được chế tạo lại để sử dụng ma túy, 01 (một) cái bậc lửa bị cáo dùng dùng

4

để hút thuốc thường ngày và 01 (một) ống nỏ đã bị bể phần đầu tròn nêu trên. Bị cáo Đ đem tất cả ra đưa cho bị cáo H và bị cáo H nhận lấy rồi đặt tất cả dụng cụ trên mặt bàn. Sau đó, bị cáo Đ cùng ngồi chung dãy ghế với bị cáo H và ông N1, cụ thể: Bị cáo H ngồi giữa, ông N1 ngồi bên tay phải của bị cáo H hướng gần cửa nhà trước vào và bị cáo Đ ngồi bên tay trái của bị cáo H. Thời điểm này, khi nhìn thấy lượng ma túy còn dư lại trong ống nỏ của bộ dụng cụ sử dụng ma túy mà bị cáo Đ mang ra nhưng không xác định được số ma túy bên trong ống nỏ nhiều hay ít nên bị cáo H hỏi bị cáo Đ nội dung “cái này là sao có sẵn” thì bị cáo Đ trả lời là “chơi hết nhiêu đây rồi đổ cái mới vô”, nghĩa là số ma túy còn dư lại bên trong ống nỏ mà bị cáo Đ mang ra là để cho bị cáo H và ông N1 sử dụng không phải trả tiền (miễn phí), không phải là số ma túy bị cáo Đ mang ra để bán cho bị cáo H như đã thỏa thuận. Sau đó, bị cáo Đ, bị cáo H và ông N1 bắt đầu cùng nhau sử dụng ma túy, cụ thể như sau:

Bị cáo H lấy 01 (một) cái bật lửa có sẵn trên bàn của bị cáo Đ rồi đốt cho bật lửa tự chế cháy lên. Sau đó, bị cáo H tiếp tục sử dụng bật lửa tự chế đốt nóng ma túy và hút trước một hơi. Thời điểm này do bị cáo Đ và ông N1 đang sử dụng điện thoại di động cá nhân, bị cáo H đã tự đốt nóng ma túy cho ông N1 hút 01 (một) hơi và tiếp theo là đốt nóng ma túy cho bị cáo Đ hút 01 (một) hơi. Sau đó, Bị cáo H, bị cáo Đ và ông N1 theo thứ tự mỗi người tự đốt nóng ma túy và hút thêm mỗi người được một hơi thì chất ma túy trong ống nỏ đã hết.

Như thỏa thuận, bị cáo Đ sẽ bán ma túy cho bị cáo H sử dụng nên bị cáo Đ đi vào phòng ngủ của bị cáo, lấy kéo cắt nhọn 01 (một) đoạn ống hút chứa ma túy mà bị cáo để sẵn bên trong túi quần đem ra vị trí mà bị cáo H và ông N1 đang ngồi. Sau đó, bị cáo Đ đổ hết ma túy vào trong ống nỏ thủy tinh của bộ D1 sử dụng ma túy đang để trên bàn. Do ma túy của bị cáo H mua nên bị cáo H có nói với bị cáo Đ “có hút thì cho làm vài hơi”. Tuy nhiên, bị cáo Đ trả lời: “chơi đi, 02 người hút đi” và bị cáo Đ cũng ngồi tại vị trí cũ. Lúc này cùng nhau bắt đầu sử dụng ma túy theo thứ tự từng người cụ thể như sau:

Bị cáo H sử dụng 01 (một) bật lửa đốt cho bật lửa tự chế cháy lên rồi đốt nấu ma túy trong ống nỏ của bình sử dụng ma túy cho chất ma túy tan chảy ra trước và tự hút 01 hơi. Thời điểm này do bị cáo Đ và ông N1 đang sử dụng điện thoại di động cá nhân, bị cáo H đã tự đốt nóng ma túy cho ông N1 hút 01 (một) hơi và tiếp theo là đốt nóng ma túy cho bị cáo Đ hút 01 (một) hơi. Sau đó, các bị cáo và ông N1 tự đốt nóng ma túy để sử dụng cho đến khi hết chất ma túy trong nỏ.

Kết thúc các lần sử dụng ma túy trên, bị cáo Đ lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy của bị cáo cất giấu vào ngăn của cái tủ đặt tại căn nhà trước. Sau đó, bị cáo tiếp tục ngồi tại vị trí cũ cùng với bị cáo H và ông N1 để sử dụng điện thoại chơi game. Thời điểm này, bị cáo H sử dụng điện thoại mà bị cáo giao nộp cho cơ quan điều tra, chuyển số tiền 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng) từ tài khoản ngân hàng A của bị cáo H, với số tài khoản 5603205298782, qua tài khoản ngân hàng M2 cho bị cáo Đ, với số tài khoản 0337549647. Tên tài khoản ngân hàng của bị cáo Đ là “TANH DUC”, số tài khoản là ngân hàng cũng là số điện thoại 0337.549.xxx mà bị cáo Đ sử dụng thường ngày. Sau khi chuyển tiền thành công, bị cáo H có đưa màn hình điện thoại cho bị cáo Đ xem và nói “chuyển tiền rồi”, bị cáo Đ trả lời là “Ừ”. Do bị cáo Đ đang cầm điện thoại chơi game và tin tưởng bị cáo H đã chuyển khoản thành công nên bị

5

cáo Đ chưa đăng nhập vào tài khoản ngân hàng của bị cáo trên điện thoại để kiểm tra lại số tiền được bị cáo H chuyển đến. Một lúc sau có ông Thạch Chí C đến nhà bị cáo Đ chơi. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày thì bị cơ quan Công an kiểm tra, phát hiện. Sau đó tạm giữ các đồ vật có liên quan và mời làm việc đối với bị cáo Đ, bị cáo H và những người có mặt tại căn nhà của bị cáo Đ để xác minh làm rõ.

Về việc thu giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T ra quyết định tạm giữ đồ vật tài liệu, cụ thể như sau:

- Gói 01: 01 (một) ống thủy tinh (nỏ) không rõ hình dạng được để trong túi niêm phong số: 120/2024/M1 ghi ngày 12/03/2024 với dấu tròn màu đỏ có nội dung PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TRÀ VINH và các chữ ký ghi tên Nguyễn Văn M1, Đặng Văn Đ1.

- Gói 02: 01 (một) ống thủy tinh (nỏ) không rõ hình dạng được để trong túi niêm phong số: 120/2024/M2 ghi ngày 12/03/2024 với dấu tròn màu đỏ có nội dung PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TRÀ VINH và chữ ký ghi tên Nguyễn Văn M1, Đặng Văn Đ1.

- Gói 03: 01 (một) bịch nhựa được để trong túi niêm phong số: 120/2024/M3 ghi ngày 12/03/2024 với dấu tròn màu đỏ có nội dung PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TRÀ VINH và chữ ký ghi tên Nguyễn Văn M1, Đặng Văn Đ1.

- 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy, có đặc điểm: phần dưới làm bằng ly thủy tinh; phần trên làm bằng nhựa có nắp màu đỏ, phía trên nắp có hai lổ được gắn một ống hút bằng nhựa màu trắng. 01 (một) bật lửa tự chế không rõ hình dạng, bên trên có gắn một cây tiêm. Tất cả đồ vật trên được niêm phong trong túi niêm phong, ký hiệu NS2 1901739.

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAM SUNG Galaxy A10S, màu đen, số máy: SM-A107F/DS; số sê ri R9AN108X01J; IMEI1: 35481112519917, IMEI2: 354482112519915. Được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu: NS3 mã số NS2 1901738.

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh, số IMEI (khe 1): 354919/06/023065/7 và số IMEI (khe 2): 354920/06/23065/5, bên trong có 01 sim số: 0386667225, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại đi động nhãn hiệu Iphone màu bạc, số IMEI: 354428061900960, đã qua sử dụng.

- 01 (một) xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu YAMAHA, loại Sirius màu xanh đen, số máy: 5C6H130490, số khung: C6HOFY130394, biển số 84G1 – 320.77, đã qua sử dụng.

- 01 (một) chìa khóa xe sử dụng cho xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu YAMAHA, loại Sirius màu xanh đen, số máy: 5C6H130490, số khung: C6HOFY130394, biển số 84G1 – 320.77, trên chìa khóa có chữ YAMAHA.

- 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy, số: 004614, tên chủ xe: Thạch Ngọc P, ngày cấp 02/07/2015, có chữ ký của Phó trưởng Công an huyện T, tỉnh Trà Vinh mang tên Trung tá Trương Văn S, đóng dấu tròn màu đỏ Công an huyện T.

6

Ngày 02/07/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ra Quyết định xử lý trao trả tài sản là xe mô tô, chìa khóa xe và giấy chứng nhận đăng ký xe nêu trên cho ông Thạch Ngọc P.

Đối với địa điểm sử dụng trái phép chất ma túy là nơi ở của bị cáo Tạ Minh Đ nhưng do mẹ ruột của bị cáo là bà Nguyễn Thị Xuân M, sinh năm 1975, nơi đăng ký thường trú và chỗ ở ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh làm chủ hộ. Tuy nhiên, hằng ngày bà M đã giao căn nhà nêu trên cho bị cáo Đ quản lý, sử dụng và ở với vợ tên Trầm Thị Bích D cùng với các con nhỏ. Việc bị cáo Đ có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và bán trái phép chất ma túy tại căn nhà nêu trên, bà M và bà D hoàn toàn không biết. Do đó, Cơ quan điều tra không xem xét sử lý đối với bà M và bà D.

Đối với nguồn gốc ma túy: Bị cáo Đ khai nhận mua từ một nam thanh niên không quen biết. Cơ quan điều tra không chứng minh được nhân thân cụ thể của người đã bán ma túy cho bị cáo Đ nên không có căn cứ xử lý đối với người này.

Đối với xe mô tô mà Cơ quan điều tra đã tạm giữ từ bị cáo H: Qua xác minh được biết xe mô tô là tài sản riêng của ông Thạch Ngọc P là cha ruột bị cáo. Vào ngày 06/3/2024, việc bị cáo H đã tự ý sử dụng xe mô tô trên làm phương tiện đến nhà bị cáo Đ để thực hiện hành vi phạm tội nêu trên, ông P hoàn toàn không biết. Ngày 25/06/2024, ông P đã làm đơn xin lại xe mô tô để làm phương tiện đi làm thuê. Xét thấy xe mô tô là tài sản hợp pháp của ông P và ông P không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo H. Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý đồ vật tài liệu bằng hình thức trao trả xe cho chủ sở hữu là ông P theo quy định pháp luật.

Đối với ông Thạch Chí C: Qua xác minh được biết thời điểm ông C đến nhà của bị cáo Đ thì bị cáo Đ và bị cáo H đã thực hiện xong hành vi phạm tội nêu trên. Do đó, ông C hoàn toàn không biết và không liên quan nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với ông C.

Đối với bật lửa của bị cáo Đ mà bị cáo H sử dụng để đốt cháy bật lửa tự chế trong vụ việc nêu trên và cây kéo dùng để cắt đoạn ma túy và vỏ đoạn ống nhựa chứa ma túy của bị cáo Đ. Qua xác minh được biết, tại thời điểm cùng nhau sử dụng ma túy thì bị cáo Đ, bị cáo H và ông N1 không xác định cụ thể vị trí để bật lửa nêu trên. Để phục vụ cho quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm để tạm giữ nhưng không thu giữ được.

Đối với ông Thạch N1: Thời điểm khi ông N1 đến nhà của bị cáo Tạ Minh Đ, ông N1 đã tham gia sử dụng ma túy cùng với các bị cáo ĐH. Tuy nhiên, ông N1 chỉ có hành vi sử dụng ma túy, không có hành vi liên quan đến việc mua bán và tổ chức sử dụng ma túy hay có hành vi khác phạm tội về ma túy nên không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự. Do đó, đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Thạch N1 đã vi phạm tại khoản 1, Điều 23 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình. Cơ quan điều tra đã đề nghị Công an huyện T ra Quyết định xử phạt với số tiền 1.500.000 đồng.

Đối với bị cáo Tạ Minh Đ: Quá trình điều tra xét thấy ngoài hành vi phạm tội nêu trên. Vào ngày 06/03/2024, bị cáo một mình sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà của bị

7

cáo. Hành vi của bị cáo đã vi phạm vào khoản 1 Điều 23 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình. Cơ quan điều tra đã đề nghị Công an huyện T ra Quyết định xử phạt với số tiền 1.500.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 68/CT-VKS-HS, ngày 01/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh truy tố bị cáo Thạch Ngọc H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Tạ Minh Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo Thạch Ngọc H, bị cáo Tạ Minh Đ khai nhận hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý cho ông Thạch N1 02 lần, lần đầu tiên người cung cấp dụng cụ và ma túy để sử dụng là bị cáo Đ, lần thứ hai người cung cấp ma túy là bị cáo H (H mua của bị cáo Đ), địa điểm và bộ dụng cụ sử dụng ma túy của bị cáo Đ đúng như cáo trạng truy tố. Đối với Tạ Minh Đ có lời khai nhận có hành vi bán ma tuý cho bị cáo Thạch Ngọc H 200.000 đồng.

Phần luận tội, sau khi phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm, nhân thân, điều kiện, hoàn cảnh, tính chất mức độ hành vi của các bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò, vị trí của từng bị cáo. Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị tuyên bố các bị cáo Thạch Ngọc H và bị cáo Tạ Minh Đ phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”; tuyên bố bị cáo Tạ Minh Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17 và Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Thạch Ngọc H từ 07 (bảy) năm đến 08 (tám) năm tù.

Đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17 và Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Tạ Minh Đ từ 07 (bảy) năm đến 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Đề nghị áp dụng 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Tạ Minh Đ từ 02 (hai) năm đến 03 (ba) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tổng hợp hình phạt của hai tội, đề nghị xử phạt bị cáo Tạ Minh Đ từ 09 (chín) năm tù đến 11 (mười một) năm tù.

Việc xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu và tiêu huỷ:

- Gói 01: 01 (một) ống thủy tinh (nỏ) không rõ hình dạng được để trong túi niêm phong số: 120/2024/M1 ghi ngày 12/03/2024 với dấu tròn màu đỏ có nội dung PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TRÀ VINH và các chữ ký ghi tên Nguyễn Văn M1, Đặng Văn Đ1.

8

- Gói 02: 01 (một) ống thủy tinh (nỏ) không rõ hình dạng được để trong túi niêm phong số: 120/2024/M2 ghi ngày 12/03/2024 với dấu tròn màu đỏ có nội dung PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TRÀ VINH và chữ ký ghi tên Nguyễn Văn M1, Đặng Văn Đ1.

- Gói 03: 01 (một) bịch nhựa được để trong túi niêm phong số: 120/2024/M3 ghi ngày 12/03/2024 với dấu tròn màu đỏ có nội dung PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TRÀ VINH và chữ ký ghi tên Nguyễn Văn M1, Đặng Văn Đ1.

- 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy, có đặc điểm phần dưới làm bằng ly thủy tinh; phần trên làm bằng nhựa có nắp màu đỏ, phía trên nắp có hai lỗ được gắn một ống hút bằng nhựa màu trắng, 01 (một) bật lửa tự chế không rõ hình dạng, bên trên có gắn một cây tiêm. Tất cả đồ vật trên được niêm phong trong túi niêm phong, ký hiệu NS2 1901739.

Đề nghị tịch thu và sung vào ngân sách nhà nước:

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAM SUNG Galaxy A10S, màu đen, số máy: SM-A107F/DS; số sê ri R9AN108X01J; IMEI1: 35481112519917, IMEI2: 354482112519915. Được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu: NS3 mã số NS2 1901738.

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh, số IMEI (khe 1): 354919/06/023065/7 và số IMEI (khe 2): 354920/06/23065/5, bên trong có 01 sim số: 0386667225, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại đi động nhãn hiệu Iphone màu bạc, số IMEI: 354428061900960, đã qua sử dụng.

Đề nghị buộc bị cáo Đ nộp 150.000 đồng sung vào ngân sách nhà nước

Về án phí: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban ThườngQuốc hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Thạch Ngọc H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Tạ Minh Đ do thuộc diện hộ cận nghèo.

Bị cáo Thạch Ngọc H, bị cáo Tạ Minh Đ không tự bào chữa;

Người bào chữa cho bị cáo Tạ Minh Đ phát biểu: Thống nhất với cáo trạng và quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát về việc truy tố bị cáo Tạ Minh Đ về các tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo Tạ Minh Đ có nhân thân tốt, bị cáo Tạ Minh Đ đã thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải; gia đình bị cáo Tạ Minh Đ thuộc diện hộ cận nghèo, trình độ học vấn thấp nên khả năng nhận thức và am hiểu pháp luật thấp. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự giảm nhẹ hình phạt ở mức thấp nhất cho bị cáo Tạ Minh Đ, đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự cho bị cáo.

Bị cáo Tạ Minh Đ nói lời sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt để sớm về lo cho các con còn nhỏ.

Bị cáo Thạch Ngọc H nói lời sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt để sớm về

9

với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Căn cứ vào lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có căn cứ xác định vào ngày 07/3/2024, tại ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh, bị cáo Tạ Minh Đ đã có hành vi mua bán trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine cho bị cáo Thạch Ngọc H với số tiền 150.000 (một trăm năm mươi nghìn) đồng. Trong khoảng thời gian và địa điểm nêu trên (nhà ở thuộc quyền quản lý hợp pháp của bị cáo Tạ Minh Đ thuộc ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh) bị cáo Tạ Minh Đ và bị cáo Thạch Ngọc H đã hai lần tổ chức cho ông Thạch N1 sử dụng trái phép chất ma túy.

[2] Xét lời khai của các bị cáo Tạ Minh Đ và bị cáo Thạch Ngọc H là phù hợp với nhau, phù hợp với hiện trường vụ án, phù hợp với thời gian bị cáo Tạ Minh Đ và bị cáo Thạch Ngọc H có mặt tại hiện trường vụ án, phù hợp lời khai của ông Thạch N1 và phù hợp với vật chứng thu giữ là các bộ dung cụ dùng để sử dụng trái phép chất ma tuý, 01 (một) bịch nhựa được để trong túi niêm phong số 120/2024/M3 ghi ngày 12/03/2024, 02 điện thoại di động có chứa dữ liệu điện tử và phù hợp với bản kết luận giám định số 120/KL-KTHS ngày 12/03/2024 của Phòng K Công an tỉnh T. Hành vi của các bị cáo Tạ Minh Đ và bị cáo Thạch Ngọc H đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, việc các bị cáo tổ chức cho ông Thạch N1 sử dụng trái phép chất ma túy đã tạo ra người nghiện trong xã hội, dẫn tới người sử dụng có thể không kiểm soát được hành vi hậu quả có những hành vi phạm pháp, gây mất an toàn trật tự xã hội. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Đối với bị cáo Tạ Minh Đ có hành vi mua bán trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine cho bị cáo Thạch Ngọc H với số tiền 150.000 (một trăm năm mươi nghìn) đồng là đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hành vi của bị cáo Tạ Minh Đ và bị cáo Thạch Ngọc H đã hai lần tổ chức cho ông Thạch N1 sử dụng trái phép chất ma túy là đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[3] Về vai trò, vị trí từng bị cáo: Lần đầu sử dụng trái phép chất ma túy thì bị cáo Đ là người cung cấp ma túy, lần hai sử dụng trái phép chất ma túy thì bị cáo H là người cung cấp ma túy. Bị cáo Tạ Minh Đ là người cung cấp chỗ ở cho bị cáo H và ông N1 sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo H là người rủ rê ông Thạch N1 đế sử dụng ma túy nên bị cáo Đ, bị cáo H có vai trò ngang nhau trong vụ án. Để góp phần bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ cuộc sống bình yên của người dân và ở địa phương thì hành vi của các bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh theo pháp luật, cần thiết phải xử phạt các bị cáo mức án tù có thời hạn, tiếp tục cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, nhằm để giáo dục, cải tạo các bị cáo, đồng thời để răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội đối với những hành vi tươngKhi quyết định hình phạt, Hội đồng xét

10

xử cũng xem xét quan điểm phát biểu bào chữa của người bào chữa cho bị cáo Tạ Minh Đ và quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên là trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; các bị cáo mới lần đầu phạm tội, có trình độ học vấn thấp, bị cáo Thạch Ngọc H là người dân tộc thiểu số (Khmer) nên am hiểu pháp luật có phần hạn chế, bị cáo Tạ Minh Đ thuộc diện hộ cận nghèo, là lao động chính trong gia đình phải nuôi vợ và 03 con còn nhỏ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật hình sự.

[4] Về vật chứng: Đối với các bộ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy tự chế, chất 01 (một) bịch nhựa được để trong túi niêm phong số: 120/2024/M3 ghi ngày 12/03/2024 là vật cấm lưu hành nên tịch thu và tiêu huỷ. Đối với các điện thoại di động thu giữ của các bị cáo đây là công cụ, phương tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội, căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu nộp ngân sách nhà nước. Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là buộc bị cáo Tạ Minh Đ nộp số tiền 150.000 đồng bán ma túy cho bị cáo H để sung vào ngân sách nhà nước.

[5] Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Xét bị cáo Tạ Minh Đ thuộc diện hộ cận nghèo, Hội đồng xét xử chấp nhận quan điểm bào chữa cho bị cáo miễn án phí hình sự cho bị cáo.

[6] Hội đồng xét xử đã thẩm tra các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố và thấy rằng các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, những người bào chữa được thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nên hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 và Điều 17, 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố bị cáo Tạ Minh Đ và bị cáo Thạch Ngọc H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Thạch Ngọc H 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/3/2024.

Xử phạt bị cáo Tạ Minh Đ 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/3/2024.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố bị cáo Tạ Minh Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

11

Xử phạt bị cáo Tạ Minh Đ 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/3/2024.

Căn cứ vào Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo Tạ Minh Đ phải chấp hành hình phạt chung bằng 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/3/2024.

Việc xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu và tiêu huỷ:

- Gói 01: 01 (một) ống thủy tinh (nỏ) không rõ hình dạng được để trong túi niêm phong số: 120/2024/M1 ghi ngày 12/03/2024 với dấu tròn màu đỏ có nội dung PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TRÀ VINH và các chữ ký ghi tên Nguyễn Văn M1, Đặng Văn Đ1.

- Gói 02: 01 (một) ống thủy tinh (nỏ) không rõ hình dạng được để trong túi niêm phong số: 120/2024/M2 ghi ngày 12/03/2024 với dấu tròn màu đỏ có nội dung PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TRÀ VINH và chữ ký ghi tên Nguyễn Văn M1, Đặng Văn Đ1.

- Gói 03: 01 (một) bịch nhựa được để trong túi niêm phong số: 120/2024/M3 ghi ngày 12/03/2024 với dấu tròn màu đỏ có nội dung PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TRÀ VINH và chữ ký ghi tên Nguyễn Văn M1, Đặng Văn Đ1.

- 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy, có đặc điểm phần dưới làm bằng ly thủy tinh; phần trên làm bằng nhựa có nắp màu đỏ, phía trên nắp có hai lỗ được gắn một ống hút bằng nhựa màu trắng, 01 (một) bật lửa tự chế không rõ hình dạng, bên trên có gắn một cây tiêm. Tất cả đồ vật trên được niêm phong trong túi niêm phong, ký hiệu NS2 1901739.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAM SUNG Galaxy A10S, màu đen, số máy: SM-A107F/DS; số sê ri R9AN108X01J; IMEI1: 35481112519917, IMEI2: 354482112519915. Được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu: NS3 mã số NS2 1901738.

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh, số IMEI (khe 1): 354919/06/023065/7 và số IMEI (khe 2): 354920/06/23065/5, bên trong có 01 sim số: 0386667225, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại đi động nhãn hiệu Iphone màu bạc, số IMEI: 354428061900960, đã qua sử dụng.

Buộc bị cáo Tạ Minh Đ nộp số tiền 150.000 đồng bán ma túy trái phép cho bị cáo Thạch Ngọc H để sung vào ngân sách nhà nước.

Về án phí: Buộc bị cáo Thạch Ngọc H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự cho bị cáo Tạ Minh Đ.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử phúc thẩm.

12

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - VKSND huyện Trà Cú;
  • - TAND tỉnh Trà Vinh;
  • - Sở tư pháp tỉnh Trà Vinh;
  • - Cơ quan CSĐTCA huyện Trà Cú;
  • - Cơ quan THAHSCA huyện Trà Cú;
  • - Cơ quan THADS huyện Trà Cú;
  • - Nhà tạm giữ CA huyện Trà Cú;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Truyền

13

Võ Văn Đầy

Ngô Văn Chiến

Nguyễn Văn Truyền

14

15

16

17

18

19

20

21

22

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 79/2024/HS-ST ngày 07/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH về hình sự sơ thẩm về tội mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 79/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tạ Minh Đức mua ban trai phep chat ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger