TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 79/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 07/05/2024
V/v “Tranh chấp xin ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Phương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Văn Nam, bà Trần Thanh Vân
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Kiệt – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Tạ Kim Oanh – Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 05 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 129/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 03 năm 2024 về việc “Tranh chấp xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 161/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 03 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trịnh Thị Cẩm V, sinh năm 1991. Địa chỉ: số A khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (có yêu cầu vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Lê Hữu T, sinh năm 1982. Địa chỉ: số F khóm A, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo nội dung đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng nguyên đơn bà Trịnh Thị Cẩm V trình bày:
Về quan hệ hôn nhân và gia đình: Bà Trịnh Thị Cẩm V và ông Lê Hữu T tự quen biết, tìm hiểu nhau và tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn năm 2012 do Ủy ban nhân dân phường M, thành phố L, tỉnh An Giang chứng nhận. Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung hạnh phúc thời gian đầu, sau đó phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tình cảm vợ chồng không còn nên bà V yêu cầu ly hôn ông T.
Về quan hệ con chung: Trong thời gian sống chung vợ chồng bà V và ông T có một con chung tên Lê Thị Cẩm T1, sinh ngày 02/3/2011. Hiện nay con chung đang sinh sống cùng với bà V, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi dưỡng con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong toàn bộ quá trình giải quyết, ông Lê Hữu T vắng mặt, không có ý kiến trình bày, không đưa ra yêu cầu phản tố, không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án xem xét, giải quyết theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, bà Trịnh Thị Cẩm V có yêu cầu xét xử vắng mặt, ông Lê Hữu T vắng mặt.
Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang:
Về thủ tục tố tụng:
Việc chấp hành pháp luật của thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách đương sự, quan hệ pháp luật tranh chấp. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm như: Nguyên tắc xét xử, thư ký phiên tòa, sự có mặt của đương sự tại phiên tòa, sự vắng mặt của đương sự tại phiên tòa. Đối với nguyên đơn bà V có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Riêng bị đơn ông T vắng mặt không đến Tòa án giải quyết là không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ nên ông phải chịu hậu quả theo quy định pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của đương sự có trong hồ sơ vụ án xét thấy:
Về hôn nhân và gia đình:
Quá trình giải quyết Tòa án tiến hành hòa giải để hàn gắn quan hệ hôn nhân của bà V và ông T, bà V cương quyết ly hôn. Xét mâu thuẫn giữa ông bà đi đến trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà V là có cơ sở để chấp nhận theo quy định tại điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về con chung:
Bà Trịnh Thị Cẩm V và ông Lê Hữu T có một con chung tên Lê Thị Cẩm T1, sinh ngày 02/03/2011. Hiện bà V đang chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T1 tốt, có nơi sinh sống và học tập, hai cháu có nguyện vọng tiếp tục được sống với bà V nên giao cho bà trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Về cấp dưỡng: bà V không yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 9, 51, 53, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trịnh Thị Cẩm V được ly hôn với ông Lê Hữu T. Về con chung: Giao con chung cho bà V trực tiếp nuôi dưỡng, ông T không cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản và nợ chung không yêu cầu nên không xét đến.
Về án phí, bà V nộp theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ co trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Trịnh Thị Cẩm V và ông Lê Hữu T có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn (bản sao) số: 98/TPMT, ngày 12/05/2011 do Ủy ban nhân dân phường M, thành phố L, tỉnh An Giang chứng nhận. Bà V khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông T; ông T cư trú tại phường M, thành phố L, tỉnh An Giang nên căn cứ vào các Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giữa bà V và ông T là “Tranh chấp ly hôn” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa bà Trịnh Thị Cẩm V có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, ông Lê Hữu T vắng mặt không có lý do, không có yêu cầu xét xử vắng mặt. Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng, Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng ông T vắng mặt. Do đó, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định pháp luật.
[3] Về nội dung vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bà Trịnh Thị Cẩm V và ông Lê Hữu T kết hôn trên cơ sở tự nguyện của cả hai, có đăng ký tại Ủy ban nhân dân phường M, thành phố L, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận kết hôn (bản sao) số 98/TPMT, kết hôn ngày 12/05/2011, được pháp luật công nhận là vợ chồng hợp pháp theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Nay, bà V và ông T phát sinh mâu thuẫn, bà V xin ly hôn nên Tòa án thụ lý giải quyết là phù hợp với quy định của pháp luật.
[4] Trong quan hệ hôn nhân và gia đình của bà V và ông T sau khi đăng ký kết hôn, vợ chồng sống chung hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn do bất đồng quan điểm, cuộc sống chung của vợ chồng không hạnh phúc, không còn tình cảm, yêu thương, vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn. Trong thời gian giải quyết bà V luôn tìm cách hàn gắn tình cảm vợ chồng, hạnh phúc gia đình nhưng không có kết quả, nên bà yêu cầu được ly hôn với ông T.
[5] Xét, hôn nhân giữa bà V và ông T phát sinh nhiều mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng không quan tâm chăm sóc, giúp đỡ nhau, thực hiện các công việc trong gia đình, nếu duy trì cuộc hôn nhân này cũng không đem lại hạnh phúc cho cả hai. Hiện nay, bà V không còn tình cảm với ông T, không yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẽ khó khăn trong cuộc sống và chăm lo hạnh phúc gia đình. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông T đồng ý ly hôn với bà V. Do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bà V được ly hôn với ông T.
[6] Về quan hệ con chung: Bà Trịnh Thị Cẩm V và ông Lê Hữu T có một con chung tên Lê Thị Cẩm T1, sinh ngày 02/03/2011. Hiện đang sống cùng với bà V. Bà V đồng ý trực tiếp nuôi dưỡng con chung, ông T không có ý kiến tranh chấp.
Hội đồng xét xử nhận thấy con chung đang sống chung với bà V, được bà chăm sóc tốt, có nơi ở ổn định, được học tập tại nơi cư trú, nguyện vọng của con mong muốn sống chung với bà V nên cần thiết giao con chung cho bà V trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Do đó, bà V được trực tiếp, tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung tên Lê Thị Cẩm T1. Về cấp dưỡng nuôi con chung, bà V không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung nên không xét đến.
[7] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Trịnh Thị Cẩm V và ông Lê k yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[8] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bà V nộp tiền án phí 300.000đ, trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí lệ phí tòa án số 0001631, ngày 01 tháng 03 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang, bà V đã nộp đủ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điều 8, 9, 19, 51, Khoản 1 Điều 53, Khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 179; 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, 273, 278, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Điều 2, 6, 7, 9, 30 Luật thi hành án dân sự.
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân và gia đình:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trịnh Thị Cẩm V được ly hôn với ông Lê Hữu T.
Về quan hệ con chung:
Bà Trịnh Thị Cẩm V và ông Lê Hữu T có một con chung tên Lê Thị Cẩm T1, sinh ngày 02/03/2011. Bà Trịnh Thị Cẩm V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Lê Thị Cẩm T1. Ông T không cấp dưỡng nuôi con chung do bà V không yêu cầu. Bà V phải tạo điều kiện thuận lợi cho ông T trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung. Việc nuôi con chung không cố định.
Về quan hệ tài sản chung và nợ chung:
Bà V và ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Trịnh Thị Cẩm V nộp số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng), trừ vào 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001631 ngày 01/03/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
Bà Trịnh Thị Cẩm V và ông Lê Hữu T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú của bà V, ông T.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
(Đã giải thích Điều 26 Luật thi hành án)
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Phương |
Bản án số 79/2024/HNGĐ-ST ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp xin ly hôn
- Số bản án: 79/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HNGĐ
