|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 79/2024/HS-ST Ngày: 06/6/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TỈNH TIỀN GIANG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Anh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phùng Văn Long
2. Ông Lê Văn Nghĩa
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Mai Chi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Ông Phạm Chí Thiện, Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 63/2024/HSST ngày 24 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa ra vụ án xét xử số 72/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
- Họ và tên: Bùi Đình H, sinh ngày 10/8/1995; Tên gọi khác: Không; Đăng ký nhân khẩu thường trú: ấp T, xã K, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Nơi ở trước khi bị bắt: ấp T, xã K, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Căn cước công dân số [...]; Nghề nghiệp: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông Bùi Thanh H1 và bà Âu Thị H2; Vợ là Thạch Thị Sa T; Bị cáo có 02 con, lớn nhất sinh năm 2021, nhỏ nhất sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ ngày 01/01/2024, tạm giam ngày 09/01/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
* Người làm chứng:
- Bùi Đình P, sinh năm 1984. Địa chỉ: Ấp T, xã K, huyện C, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt).
- Bùi Minh Q, sinh năm 1980. Địa chỉ: Ấp T, xã K, huyện C, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt).
- Bùi Thanh H1, sinh năm 1961. Địa chỉ: Ấp T, xã K, huyện C, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt).
- Âu Thị H2, sinh năm 1958. Địa chỉ: Ấp T, xã K, huyện C, tỉnh Tiền Giang (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 01/01/2024, tại hộ ông Bùi Thanh H1, sinh năm 1961 ngụ ấp T, xã K, huyện C, tỉnh Tiền Giang giữa Bùi Đình H và anh, chị của H là Bùi Đình P, Bùi Minh Q xảy ra mâu thuẫn. Trong lúc cự cải, Bùi Đình H đi ra phía sau nhà lấy 01 khẩu súng tự chế và 01 bịch nylon chứa 30 viên đạn, H lắp 3 viên đạn vào súng và bắn chỉ thiên 3 phát để hù dọa chị P, anh Q. Lúc này ông Bùi Thanh H1, bà Âu Thị H2 là cha, mẹ của Bùi Đình H can ngăn nên H giao súng, đạn lại cho bà H2, ông H1 cầm và trình báo Công an xã K, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Vật chứng thu giữ gồm:
- 01 khẩu súng bằng kim loại dài 36cm, dạng trụ tròn, nòng súng màu trắng, thân súng màu đen;
- 27 viên đạn bằng kim loại, chiều dài 25mm, vỏ đạn màu vàng, đầu đạn màu đen, đít đạn có cùng ký hiệu C.
- 03 vỏ đạn bằng kim loại màu vàng, đít đạn có cùng ký hiệu C.
- 01 cầy kềm bằng kim loại, có tay cầm bằng nhựa màu đen và đỏ.
Theo Bản kết luận giám định số 03/KL-KTHS (Đ2) ngày 02/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:
- Khẩu súng gửi giám định là súng được chế tạo thủ công cỡ nòng 5.6mm, súng sử dụng để bắn được với loại đạn thể thao cỡ (5,6x15.5)mm, hiện tại khẩu súng có đầy đủ các bộ phận, lắp ráp đúng vị trí và bắn được đạn nổ. Khẩu súng gửi giám định là vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự vũ khí quân dụng và là vũ khí quân dụng.
- 27 viên đạn gởi giám định là đạn thể thao cỡ (5,6x15.5)mm. Loại đạn này thường sử dụng để bắn cho một số loại súng cỡ nòng 5,6mm như: Súng Toz8, súng, súng ám sát hình bút... các loại súng chế tạo thủ công có đường kính buồng đạn 6mm và khẩu súng gửi giám định.
Theo Bản kết luận giám định số 2428/KL-KTHS ngày 12/4/2024 của Phân viện Khoa học hình sự Bộ C kết luận: 03 vỏ đạn gửi giám định được bắn ra từ khẩu súng đã gửi giám định (thu giữ của Bùi Đình H).
Quá trình điều tra: Bùi Đình H khai khoảng tháng 12/2023, Bùi Đình H sử dụng Facebook cá nhân truy cập vào trang có tên “Đam mê thể thao 22LR” đặt mua 01 khẩu súng, 50 viên đạn và tiền phí vận chuyển tổng cộng 4.000.000 đồng, Bùi Đình H nhận hàng 3 lần bằng linh kiện gồm: thân súng, nòng súng, 50 viên đạn. Sau khi nhận các linh kiện súng Bùi Đình H lấy cây kềm có sẵn ở nhà để vặn và lắp ráp lại thành khẩu súng hoàn chỉnh và sử dụng khoảng 20 viên đạn đi ra phía sau nhà bắn thử, đạn nổ (không xác định được vị trí bắn nên Cơ quan An ninh điều tra không thu hồi được vỏ đạn); thử súng xong H cất cất giấu phía sau nhà ở ấp T, xã K, huyện C, tỉnh Tiền Giang đến ngày 01/01/2024 Bùi Đình H tiếp tục mang ra sử dụng.
*Tại bản cáo trạng số 21/CT-VKSCT ngày 22/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đã truy tố bị cáo Bùi Đình H về tội “Chế tạo, tàng trữ, sử dụng trái phép trái phép vũ khí quân dụng” theo qui định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự.
* Tại phiên tòa,
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Bùi Đình H về tội “Chế tạo, tàng trữ, sử dụng trái phép trái phép vũ khí quân dụng” theo qui định khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự và phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, cùng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, đã đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Tuyên bố bị cáo Bùi Đình H phạm tội “Chế tạo, tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 304; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g Khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Đình H từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 tháng tù.
- - Tịch thu giao cho Bộ xử lý theo thẩm quyền: 01 khẩu súng bằng kim loại dài 36cm, dạng trụ tròn, nòng súng màu trắng, thân súng màu đen; 27 viên đạn bằng kim loại, chiều dài 25mm, vỏ đạn màu vàng, đầu đạn màu đen, đít đạn; 03 vỏ đạn bằng kim loại màu vàng, đít đạn có cùng ký hiệu C.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 cây kiềm bằng kim loại, có tay cầm bằng nhựa màu đen và đỏ.
Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
* Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, các đương sự, nhân chứng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo. Xét thấy:
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo cho rằng: trong khoảng tháng 12/2023 đến ngày 01/01/2024, bị cáo đặt mua linh kiện súng, sử dụng cây kềm lắp ráp các linh kiện thành khẩu súng qua giám định là vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự vũ khí quân dụng và là vũ khí quân dụng, cất giấu súng và sử dụng bắn nhiều lần tại ấp T, xã K, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Lời khai nhận tội trên của bị cáo cơ bản đã phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, lời khai của người làm chứng và các lời khai trước đây của bị cáo tại cơ quan điều tra, cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy đã đủ cơ sở xác định bị cáo phạm tội “ Chế tạo, tàng trữ, sử dụng trái phép trái phép vũ khí quân dụng” theo qui định khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự.
[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Xét thấy, bị cáo là người đã thành niên, có sức khoẻ và khả năng nhận thức về hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức được hành vi chế tạo, tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng là vi phạm pháp luật. Thế nhưng, để thõa mãn nhu cầu của cá nhân, bị cáo đặt mua linh kiện súng để lắp ráp các linh kiện thành khẩu súng quân dụng, cất giấu súng và sử dụng bắn nhiều lần. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi mà mình đã gây ra.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức được vũ khí quân dụng do Nhà nước độc quyền quản lý và chỉ được sử dụng trong lĩnh vực an ninh quốc phòng, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, chỉ có những cơ quan, tổ chức, cá nhân được Nhà nước cho phép mới được sử dụng, mọi hành vi sử dụng trái phép đều bị xử lý theo pháp luật. Nhưng bị cáo lại cố ý mua linh kiện về để chế tạo vào sử dụng nhiều lần nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự về hành vi này. Hành vi này của bị cáo đã xâm phạm chế độ quản lý vũ khí quân dụng của Nhà nước, hành vi phạm tội của các bị cáo tiềm ẩn nguy cơ, điều kiện thuận lợi phát sinh các hành vi phạm tội khác, gây mất ổn định về trật tự an toàn xã hội, xâm hại đến an ninh quốc gia ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo trở thành người có ích trong xã hội và phòng ngừa chung cho các đối tượng khác.
Tuy nhiên, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy, Hội đồng xét thấy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
[4] Về xử lý vật chứng:
- - 01 khẩu súng bằng kim loại dài 36cm, dạng trụ tròn, nòng súng màu trắng, thân súng màu đen; 27 viên đạn bằng kim loại, chiều dài 25mm, vỏ đạn màu vàng, đầu đạn màu đen, đít đạn, 03 vỏ đạn bằng kim loại màu vàng, đít đạn có cùng ký hiệu C. Xét thấy, đây là tang vật của vụ án và là vũ khí nên cần tịch thu giao cho Bộ chỉ huy quân sự xử lý theo thẩm quyền.
- - 01 cây kiềm bằng kim loại, có tay cầm bằng nhựa màu đen và đỏ. Xét thấy, đây là tang vật của vụ án và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[5] Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên chấp nhận.
* Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Về Hình phạt
- Tuyên bố bị cáo Bùi Đình H phạm tội “Chế tạo, tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 304; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Xử: Phạt bị cáo Bùi Đình H 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/01/2024.
2. Về vật chứng:
- Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự.
- Tịch thu: 01 khẩu súng bằng kim loại dài 36cm, dạng trụ tròn, nòng súng màu trắng, thân súng màu đen; 27 viên đạn bằng kim loại, chiều dài 25mm, vỏ đạn màu vàng, đầu đạn màu đen, đít đạn; 03 vỏ đạn bằng kim loại màu vàng, đít đạn có cùng ký hiệu C. Giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh xử lý theo thẩm quyền.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 cây kiềm bằng kim loại, có tay cầm bằng nhựa màu đen và đỏ.
(Các vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/4/2024) .
3. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND h. Châu Thành; - Công an h. Châu Thành; - Chi cục THADS h. Châu Thành; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu. |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Anh Tuấn |
Bản án số 79/2024/HS-ST ngày 06/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG về chế tạo, tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng
- Số bản án: 79/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Chế tạo, tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Bùi Đình H phạm tội Chế tạo, tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng
