|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG TỈNH TUYÊN QUANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 79/2024/HS-ST Ngày 05-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Cường.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Minh Hùng.
2. Ông Nguyễn Văn Quang
Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Trần Thị Minh Hà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Hữu Trí – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến từ điểm cầu Phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang đến điểm cầu Phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang vụ án hình sự thụ lý số: 74/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 7 năm 2024 đối với:
Bị cáo: NGUYỄN VĂN SÔNG – Sinh ngày: 24-12-1987 tại huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc.
Nơi cư trú: Tổ dân phố B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Nguyễn Văn V - Sinh năm: 1952; Con bà: Nguyễn Thị L - Sinh năm: 1955; Vợ: Nguyễn Thị N - Snh năm: 1990; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2012
Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Tốt.
Bị cáo Nguyễn Văn S hiện đang tại ngoại theo Quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn số: 07/2024/HSST ngày 03 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt tại điểm cầu Phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
Bị hại:
- Anh Cháng Văn Q - Sinh năm: 1997; Địa chỉ: Thôn N, xã Đ, huyện Q, tỉnh Hà Giang. Có mặt tại điểm cầu Phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang.
- Người đại diện theo pháp luật của bị hại Phán Thìn Quyển (đã chết): Anh Nguyễn Đức T - Sinh năm: 1987. Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Q, tỉnh Hà Giang. Có mặt tại điểm cầu Phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 20 phút ngày 12-3-2024, bị cáo Nguyễn Văn S điều khiển xe ô tô đầu kéo BKS 88C-252.89 kéo theo Sơ mi rơ moóc BKS 88R-015.33 (tài sản thuộc sở hữu của bị cáo Nguyễn Văn S) đi từ xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc đến mỏ đá Huy L1 thuộc địa phận thôn V, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang để chở vật liệu xây dựng (đá).
Khoảng 14 giờ 50 phút cùng ngày, khi bị cáo S điều khiển xe ô tô đi đến đoạn đường Q thuộc địa phận thôn L, xã S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang, đi ở phần đường bên phải theo hướng di chuyển, quan sát thấy phía trước cùng chiều có một xe tải thùng (chưa xác định được biển số đăng ký và chủ sở hữu) và phía đường ngược chiều là xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave alpha màu sơn xanh, biển số đăng ký 23AU – 001.53 do anh Phán T1 Quyển điều khiển chở anh Cháng Văn Q ngồi sau, bị cáo S tăng tốc độ đồng thời điều khiển xe ô tô sang phần đường bên trái theo hướng di chuyển của bị cáo S, mục đích để vượt xe tải thùng đang đi phía trước cùng chiều. Cùng lúc này, xe mô tô do anh Q1 điều khiển đi đến, bị cáo S đã đạp phanh, giảm tốc độ di chuyển của xe ô tô nhưng do khoảng cách giữa hai xe quá gần nên vùng ba đờ sốc trước bên trái của xe ô tô đầu kéo biển số đăng ký 88C-252.89 kéo theo Sơ mi rơ moóc biển số đăng ký 88R-015.33 va chạm với phần đầu xe mô tô biển số đăng ký 23AU-001.53.
Hậu quả: Anh Phán T1 Quyển chết tại chỗ, anh Cháng Văn Q bị thương phải đi bệnh viện cấp cứu, điều trị. Hai phương tiện bị hư hỏng.
Biên bản khám nghiệm hiện trường hồi 16 giờ 30 phút ngày 12-3-2024 xác định: Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn là đường hai chiều, mặt đường trải nhựa bằng phẳng, từ hiện trường nhìn về hai phía thẳng, tầm nhìn không bị che khuất. Khám nghiệm theo hướng Vĩnh Phúc đi Tuyên Quang. Giữa đường có vạch sơn đứt quãng màu vàng, ngã ba một hướng đi Tuyên Quang, một hướng đi Vĩnh Phúc. Lòng đường nơi xảy ra tai nạn rộng nhất 8,16m, lấy mép đường nhựa bên phải theo chiều khám nghiệm làm mép chuẩn, lấy cột điện bên lề đường bên trái làm vật chuẩn. Quá trình khám nghiệm hiện trường xác định vị trí số 4 là vị trí đầu tiên xảy ra va chạm và nằm trên phần đường bên trái theo hướng Vĩnh Phúc đi Tuyên Quang. Vị trí số 4 là tâm đầu vùng vết cày trượt đứt
quãng mặt đường, dài 16,35m, chỗ rộng nhất 43cm, sâu 02 cm. T2 đầu vùng vết đo đến mép chuẩn là 6,8m, tâm cuối vùng vết đo vuông góc đến mép chuẩn là 5,4m.
Biên bản khám nghiệm phương tiện hồi 18 giờ 35 phút ngày 12-3-2024 đối với xe ô tô đầu kéo biển số 88C- 252.89, kéo theo sơ mi rơ móoc: Mặt ngoài ca lăng có vùng nứt vỡ nhựa, trong vùng có bám dính tạp chất màu xanh, ba đờ sốc có vùng tỳ trượt, móp méo, tỳ đẩy chiều hướng từ trước về sau, trong vùng có bám dính tạp chất màu xanh; góc dưới phía trước cánh cửa cabin bên trái có vùng nứt vỡ nhựa.
Biên bản khám nghiệm phương tiện hồi 19 giờ ngày 12-3-2024 đối với xe mô tô biển số 23AU-00153: Chân gương chiếu hậu bên trái bị cong gập từ trước về sau, đầu tay nắm bên trái bị tuột tay cầm cao su, toàn bộ phần phía trước đầu xe gồm mặt đồng hồ táp lô, mặt nạ phía trước đầu xe, chắn bùn trước của bánh trước bị vỡ, ½ cánh yếm hai bên phía trên bị gãy vỡ.
Quá trình làm việc, kiểm tra không có nồng độ cồn trong hơi thở và không có chất ma túy trong cơ thể của bị cáo Nguyễn Văn S.
Tại Kết luận giám định tử thi số 427/KL-KTHS ngày 22-3-2024 của Phòng K Công an tỉnh T đối với tử thi Phán Thìn Quyển kết luận:
- Các kết quả chính: Kết quả khám nghiệm:
+ Vùng mặt, cổ, ngực, bụng, lưng, hai tay, hai chân có các vết bầm tím, sây sát, rách mất da.
+ Chấn thương gãy kín xương vùng khuỷu tay và 1/3 trên xương cánh tay;
+ Chấn thương gãy, vỡ kín xương vùng gối trái;
+ Chấn thương hàm mặt: Mặt biến dạng. Trong khoang mũi, miệng có nhiễu máu loãng lẫn máu cục. Xương hàm trên gãy, vỡ thành nhiều mảnh rời và lún, sập về phía sau. Các xương chính mũi, xương gò má trái gãy vỡ làm nhiều mảnh lún, sập về phía sau. Trong khoang miệng có nhiều máu loãng lẫn máu cục. Gãy mất thân răng số 4.1, 4.2.
- Kết quả xét nghiệm, giám định khác:
+ Test nhanh HIV, HBsAg, HCV với máu tử thi cho kết quả dương tính với HBsAg; âm tính với HIV, HCV.
Kết quả khác: Không.
Kết luận: Nguyên nhân chết: Suy hô hấp cấp do chấn thương hàm mặt, chảy máu lấp tắc đường hô hấp trên.
- Kết luận khác: Vị trí, đặc điểm thương tích trên thân thể đã mô tả ở trên.
+ Cơ chế gây thương tích: Các thương tích trên thân thể Phán Thìn Quyển do va đập trực tiếp với vật tày gây ra.
Kết luận giám định mô bệnh học (vi thể) số 432/KL-KTHS ngày 22-3-2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Da: Mô liên kết (tổ chức dưới da) chảy máu, có chỗ hồng cầu đông vón thành đám.
Tại Kết luận giám định số 435/KL-KTHS ngày 13-3-2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Mẫu máu của tử thi Phán Thìn Quyển không có cồn (Ethanol).
Tại Kết luận giám định số 436/KL-KTHS ngày 19-3-2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Không tìm thấy các chất ma túy thường gặp trong mẫu máu của tử thi Phán T1 Quyển.
Tại Kết luận giám định số 441/KL-KTHS ngày 09-4-2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận:
+ Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong tệp tin video gửi giám định.
+ Ngay trước khi xảy ra va chạm, xe mô tô (hoặc xe gắn máy) màu đen di chuyển ở phần đường bên phải theo chiều di chuyển; không đủ cơ sở xác định phần đường di chuyển của xe ô tô đầu kéo, kéo theo sơ mi rơ moóc.
+ Ngay trước thời điểm xảy ra va chạm, xe mô tô (hoặc xe gắn máy) màu đen di chuyển với tốc độ từ 44,53 km/h đến 46,94 km/h; không đủ cơ sở xác định được tốc độ của xe ô tô đầu kéo, kéo theo sơ mi rơ moóc.
+ Đặc điểm về người ngồi trên xe mô tô (hoặc xe gắn máy) màu đen có liên quan đến vụ va chạm giao thông được mô tả chi tiết trong bản ảnh giám định.
Kết luận giám định số 449/KL-KTHS ngày 12-4-2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận:
+ Các dấu vết ở đầu xe mô tô biển số đăng ký 23AU-001.53 hình thành do va chạm với các dấu vết tại vùng ba đờ sốc trước bên trái của xe ô tô đầu kéo biển số đăng ký 88C-252.89, kéo theo sơ mi rơ moóc biển số đăng ký 88R-015.33 tạo nên là phù hợp.
+ Vị trí va chạm đầu tiên trên hiện trường giữa xe mô tô biển số đăng ký 23AU-001.53 với xe ô tô đầu kéo biển số đăng ký 88C-252.89, kéo theo sơ mi rơ moóc biển số đăng ký 88R-015.33 tại phía trước điểm đầu vùng vết cày trượt đứt quãng mặt đường vị trí số 04 được ghi nhận trên hiện trường và thuộc phần đường bên trái theo hướng tỉnh Vĩnh Phúc đi tỉnh Tuyên Quang là phù hợp.
Kết luận định giá tài sản số 25/KL-HĐĐGTSTTHS ngày 10-4-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện S kết luận, giá trị thiệt hại của xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu sơn xanh, biển số 23AU-00153 là 1.167.000 đồng (Một triệu một trăm sáu mươi bảy nghìn đồng)
Kết luận định giá tài sản số 26/KL-HĐĐGTSTTHS ngày 10-4-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện S kết luận, giá trị thiệt hại của xe ô tô nhãn hiệu CNHTC, biển số 88C-252.89 màu sơn đỏ là 7.180.000 đồng (Bảy triệu một trăm tám mươi nghìn đồng)
Tại cáo trạng số: 77/CT-VKS ngày 02 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn S về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang thực hành quyền công tố, có quan điểm giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn S. Đưa ra chứng cứ đánh giá mức độ hành vi phạm tội và thái độ thành khẩn khai báo của bị cáo cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang đề nghị với HĐXX:
Về tội danh: Tuyên bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm 06 tháng. Giao bị cáo Nguyễn Văn S về Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người đại diện của bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm về phần trách nhiệm dân sự. Do vậy, HĐXX không xem xét, giải quyết.
Về vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S, tỉnh Tuyên Quang và Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang đã trả lại các tài sản cho chủ sở hữu và đại diện hợp pháp. Các chủ sở hữu và đại diện hợp pháp không có ý kiến đề nghị gì đối với những tài sản đã được trả lại. Do vậy, không đề nghị HĐXX xem xét, giải quyết.
Về án phí và quyền kháng cáo: Theo quy định của pháp luật.
Phần tranh luận tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Văn S; Bị hại anh Cháng Văn Q; Người đại diện theo pháp luật của bị hại Phán Thìn Quyển là anh Nguyễn Đức T nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đưa ra tại phiên tòa và không có ý kiến tranh luận.
Quyền của bị cáo được nói lời sau cùng: Bị cáo Nguyễn Văn S đã nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Bị cáo rất ân hận về hành vi của mình. Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn S trực tiếp xin lỗi bị hại. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo để được hòa nhập với gia đình, cộng đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo khai phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ 50 phút ngày 12-3-2024, bị cáo Nguyễn Văn S (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe ô tô đầu
kéo BKS 88C-252.89 kéo theo Sơ mi rơ moóc BKS 88R-015.33, hướng di chuyển từ tỉnh Vĩnh Phúc đi tỉnh Tuyên Quang. Khi đi đến đoạn đường Q thuộc địa phận thôn L, xã S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang, bị cáo S quan sát thấy phía trước ngược chiều có xe mô tô do anh Phán T1 Quyển điều khiển chở anh Cháng Văn Q ngồi sau, nhưng bị cáo S vẫn tăng tốc mục đích để vượt xe ô tô tải thùng đi phía trước cùng chiều, dẫn tới va chạm với xe mô tô do anh Phán T1 Quyển điều khiển. Hậu quả: Anh Phán T1 Quyển chết, anh Cháng Văn Q bị thương, hai phương tiện bị hư hỏng.
Bị cáo Nguyễn Văn S là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo không tuân thủ đúng quy định khi tham gia giao thông đường bộ và vi phạm vi phạm quy định tại điểm a khoản 5 Điều 14 Luật giao thông đường bộ năm 2008 (vượt khi có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt) dẫn đến xảy ra tai nạn, với lỗi vô ý, hậu quả chết một người. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến an toàn và sự hoạt động bình thường của các phương tiện tham gia giao thông đường bộ được pháp luật hình sự bảo vệ. Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 như Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2] Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi sự việc xảy ra, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại và gia đình các bị hại; bị hại và gia đình các bị hại xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo; ông nội bị cáo là ông Nguyễn Đức D được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhì; bác ruột bị cáo là ông Nguyễn Minh T3 được Bộ trưởng Bộ C, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc tặng Bằng khen, Giấy khen do vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ hình phạt khi lượng hình theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[3] Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn S không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo Nguyễn Văn S có nghề nghiệp chính là lái xe; sau khi sự việc xảy ra, bị cáo đã thành khẩn, ăn năn hối cải đối với hành vi của mình; việc tiếp tục cho bị cáo làm công việc lái xe không gây nguy hại cho xã hội hoặc không tạo điều kiện cho bị cáo phạm tội mới nên HĐXX quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[5] Tính chất và mức độ của hành vi phạm tội: Tai nạn giao thông là vấn đề nhức nhối của toàn xã hội. Nhà nước và địa phương thường xuyên tuyên truyền các quy định của Luật Giao thông đường bộ trên các phương tiện thông tin đại chúng. Hành vi bị cáo không không tuân thủ đúng quy định khi tham gia giao thông gây tai nạn, dẫn đến hậu quả làm chết một người là nguy hiểm cho xã hội. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết lên mức án phù hợp với tính chất, mức độ và hậu quả mà bị cáo đã gây ra để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm
này nhằm hạn chế tối đa tai nạn giao thông theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Nguyễn Văn S có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, địa chỉ cư trú rõ ràng; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do vậy, HĐXX nhận thấy không cần dùng biện pháp cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo hưởng án treo theo khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự và Điều 2 Văn bản hợp nhất số: 02/VBHP-TANDTC ngày 07-9-2022 của Tòa án nhân dân tối cao là phù hợp và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn S đã tự nguyện bồi thường chi phí mai táng và tổn hại tinh thần cho đại diện gia đình anh Phán T1 Quyển số tiền: 405.000.000đ; bồi thường cho anh Cháng Văn Q số tiền 105.000.000đ. Bị hại anh Cháng Văn Q và đại diện gia đình bị hại anh Phán T1 Quyển không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm gì về phần trách nhiệm dân sự. Do vậy, HĐXX không xem xét, giải quyết.
[7] Về vật chứng:
Ngày 05-4-2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, tỉnh Tuyên Quang đã trả lại 01 xe ô tô đầu kéo BKS 88C-252.89 nhãn hiệu CNHTC, màu sơn đỏ kéo theo sơ mi rơ moóc BKS 88R-015.33 cho bị cáo Nguyễn Văn S
Ngày 05-4-2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, tỉnh Tuyên Quang đã trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu sơn xanh, biển số 23AU-00153 cho anh Nguyễn Đức T là người đại diện cho bị hại anh Phán T1 Quyển.
Ngày 05-8-2024, Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang đã trả lại: 01 giấy phép lái xe hạng FC mang tên Nguyễn Văn S; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ của xe ô tô biển số đăng ký 88C-015.33; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ của xe sơ mi rơ móoc biển số đăng ký 88R- 252.89; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô cho bị cáo Nguyễn Văn S.
Các tài sản trên đã được trả lại cho chủ sở hữu và đại diện hợp pháp của chủ sở hữu. Chủ sở hữu và đại diện hợp pháp của chủ sở hữu không có ý kiến đề nghị gì đối với những tài sản trên. Do vậy, HĐXX xem xét, giải quyết.
[8] Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn S phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, khoản 1 Điều 23 theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 “quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.
[9] Quyền kháng cáo: Bị cáo; Bị hại; Người đại diện của bị hại có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
[10] Về hành vi tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, HĐXX nhận thấy Cơ quan điều tra; Điều tra viên; Viện kiểm sát; Kiểm sát viên đã thực hiện hành vi, quyết định tố tụng về khởi tố vụ án, khởi tố bị can, áp dụng biện pháp ngăn chặn với bị cáo, ra quyết định truy tố; thu thập chứng cứ tài liệu, vật chứng
đã khách quan, phù hợp với quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[11] Các vấn đề khác: Đối với thương tích của anh Cháng Văn Q, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, tỉnh Tuyên Quang đã ra Quyết định trưng cầu giám định thương tích đối với anh Cháng Văn Q nhưng anh Q từ chối giám định; tiến hành dẫn giải anh Q theo Quyết định dẫn giải nhưng anh Q không chấp hành nên không có căn cứ xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Về tội danh và hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án (ngày 05-8-2024).
Giao bị cáo Nguyễn Văn S về Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính Quyển địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó. Trường hợp người được hưởng án treo vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 Luật Thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, khoản 1 Điều 23 theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 “Quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”. Buộc bị cáo Nguyễn Văn S phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo Nguyễn Văn S; Bị hại anh Cháng Văn Q; Người đại diện của bị hại anh P Thìn Quyển là anh Nguyễn Đức T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 05-8-2024).
|
Nơi nhận:
|
T-M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Việt Cường |
Bản án số 79/2024/HS-ST ngày 05/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự)
- Số bản án: 79/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Sông
