|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 79/2024/HS-ST Ngày 04-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Hoàng Nam. |
| Ông Huỳnh Phước. | |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Nguyễn Phước. |
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thuận - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Vương - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 6 năm 2024 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 62/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2024/QĐXXST - HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Thạch P (tên gọi khác: T), sinh ngày: 13/8/1983 tại Sóc Trăng. Nơi cư trú: số D, đường Đ, Khóm A, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 01/12; Dân tộc: Khmer; Giới tính: nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Thạch Mô R (chết) và bà Trương Thị Minh N (chết); vợ, con chưa có; Tiền án: không, tiền sự: 01 lần tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 27/QĐ-XPHC ngày 09/3/2023 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng xử phạt tiền 1.500.000 đồng, về hành vi đánh bạc trái phép. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 29 tháng 01 năm 2024 cho đến nay (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lê Thị H, sinh năm 1984. Địa chỉ: số E, đường C, Khóm A, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
- Ông Bùi Phước H1, sinh năm 1979. Địa chỉ: ấp S, xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
- Ông Đặng Văn K, sinh năm 1995. Địa chỉ: số E, đường P, Khóm C, Phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20 giờ 00 phút, ngày 31/12/2023, Thạch P gặp Đặng Văn K, Bùi Phước H1 và Lê Thị H ở quán C số H, đường H, Khóm F, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Sau đó P, K, H1 và H rủ nhau chơi đánh bài tiến lên 13 lá ăn thua bằng tiền. Khi đó, H bỏ ra 190.000 đồng để đánh bạc, H1 bỏ ra 120.000 đồng để đánh bạc, K bỏ ra 4.000 đồng để đánh bạc và P bỏ ra 40.000 đồng để đánh bạc. Cách thức chơi, mỗi người được chia 13 lá bài, mỗi ván chơi theo lượt từng người chơi, theo chiều ngược kim đồng hồ. Ván đầu tiên, quyền đánh trước là ngẫu nhiên. Từ ván sau trở đi, người nhất ở ván kết trước sẽ được quyền đánh trước ván tiếp theo. Người đầu tiên thực hiện việc ra bài đầu tiên, người này được quyền ra một quân hoặc một kiểu kết hợp tùy ý (Rác, đôi, ba hay sảnh). Lần lượt theo chiều ngược chiều kim đồng hồ (chiều tay phải), các người chơi khác có quyền đè bài người bên trái mình. Bài người ra sau phải cùng kiểu kết hợp và lớn hơn bài người trước mới được coi là đè bài (tức cùng là rác, đôi, sảnh... trừ trường hợp "chặt" heo). Trong cùng một lượt bài, việc đè bài có thể xảy ra trong nhiều vòng chứ không bó hẹp 1 vòng duy nhất nên một người có thể đè nhiều hơn 1 lần. Tuy nhiên, nếu người chơi bỏ lượt ở vòng trước thì ở vòng tiếp theo của lượt hiện tại người chơi không được quyền đè nữa. Quyền đè bài chỉ được khôi phục khi lượt bài mới được thực hiện. Khi không có người chơi chặt hoặc đè được lá bài vừa đánh thì lượt chơi kết thúc, người đánh cuối cùng có thể tiếp tục đánh ra quân bài tùy ý để bắt đầu lượt mới. Nếu người ra bài cuối cùng ấy đã hết bài (đã tới) mà 3 người còn lại không ai bắt được lượt bài này thì người gần nhất bên phải họ được ra bài bất kỳ (việc này gọi là "hưởng sái" đối với người ngồi kế). Người về thứ 4 sẽ chung tiền cho người về nhất 4.000 đồng, người về thứ 3 sẽ chung tiền cho người về thứ 2 là 2.000 đồng. P, K, H1 và H chơi được khoảng 05 đến 06 ván thì bị Công an bắt. Thu giữ tại chiếu bạc 02 bộ bài tây 52 lá, thu giữ tiền trên người của H có 190.000 đồng, trên người của K 4.000 đồng, trên người của H1 125.000 đồng, trên người của P 40.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 68/CT-VKS.TPST ngày 15 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng truy tố bị cáo Thạch P về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận Cáo trạng số 68/CT-VKS.TPST ngày 15 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng; Đề nghị tuyên bố bị cáo Thạch P phạm tội “Đánh bạc”; Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu sung quỹ Nhà nước: số tiền 359.000 đồng, trong đó: bị cáo Thạch P 40.000 đồng; Đặng Văn K 4.000 đồng; Bùi Phước H1 125.000 đồng; Lê Thị H 190.000 đồng.
- - Tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) bộ bài tây 52 lá.
- - Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm hình sự theo quy định.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu và không có ý kiến gì đối với luận tội của viện kiểm sát, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa sơ thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là bà Lê Thị H, ông Bùi Phước H1, ông Đặng Văn K được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt và việc vắng mặt của đương sự nêu trên không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thành phố S trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Ngoài ra, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, bị cáo Thạch P thừa nhận toàn bộ hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh bài tiến lên ăn thua bằng tiền, thể hiện vào khoảng 22 giờ 00 phút, ngày 31 tháng 12 năm 2023, tại số H, đường H, Khóm F, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, bị cáo Thạch P cùng với ông Đặng Văn K, ông Bùi Phước H1 và bà Lê Thị H đánh bài tiến lên ăn thua bằng tiền, với tổng số tiền đánh bạc 359.000 đồng, do bị cáo Thạch P là người có 01 tiền sự tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 27/QĐ-XPHC ngày 09/3/2023 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng, về hành vi đánh bạc trái phép nhưng chưa được xóa, nên lần đánh bạc này của bị cáo đã cấu thành tội đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Khoản 1 Điều 321 BLHS quy định: “1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua thắng bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”. Từ đó, Cáo trạng số 68/CT-VKS.TPST ngày 15 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng truy tố bị cáo để xét xử về tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không oan cho bị cáo.
[4] Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[4.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;
[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo là người dân tộc Khmer đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt: Bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đầy đủ nhận thức và năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo biết rằng đánh bạc là tệ nạn xã hội, bị pháp luật nghiêm cấm và là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm khác cho xã hội nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi đánh bạc bất chấp quy định pháp luật, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội đã thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ trực tiếp xâm phạm đến tình hình an ninh trật tự, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Cho nên hành vi của bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, chính vì vậy cần phải xử phạt tù đối với bị cáo để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho xã hội.
[6] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[6.1] Số tiền dùng vào việc phạm tội cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước gồm số tiền 359.000 đồng, trong đó: bị cáo Thạch P 40.000 đồng; Đặng Văn K 4.000 đồng; Bùi Phước H1 125.000 đồng và Lê Thị H 190.000 đồng.
[6.2] Tịch thu tiêu hủy các vật chứng không còn giá trị sử dụng, tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) bộ bài tây 52 lá.
[7] Về án phí: Bị cáo là người bị kết án, nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Đối với Đặng Văn K, Bùi Phước H1 và bà Lê Thị H chưa có tiền án, tiền sự và tổng số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng nên hành vi của K, H1, H không cấu thành tội phạm. Công an thành phố S đã ra quyết định xử phạt hành chính mội người số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc.
[9] Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt và xử lý vật chứng của vụ án là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sử đổi, bổ sung năm 2017.
Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Thạch P phạm tội “Đánh bạc”.
- Xử phạt bị cáo Thạch P 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện thi hành án hoặc bắt bị cáo thi hành án.
-
Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 359.000 đồng, trong đó: bị cáo Thạch P 40.000 đồng; Đặng Văn K 4.000 đồng; Bùi Phước H1 125.000 đồng; Lê Thị H 190.000 đồng.
- - Tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) bộ bài tây 52 lá.
Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 15/4/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
- Về án phí: Bị cáo Thạch P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hoàng Nam |
Bản án số 79/2024/HS-ST ngày 04/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG về hình sự sơ thẩm (đánh bạc)
- Số bản án: 79/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
