TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 79/2024/HS-ST Ngày: 04/6/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Giang Thị Thúy Thu.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Kim Phượng;
Bà Nguyễn Thị Tươi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thanh Mai - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Lịnh - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 61/2024/TLST – HS, ngày 26 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 76/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Bùi Khắc T (tên gọi khác: C), sinh năm 1993; tại thành phố N, tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: số nhà A, ngõ C, đường L, phố A, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình. Nghề nghiệp: lao động tự do.Trình độ văn hóa: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Bùi Khắc H và bà Hoàng Thị N ; Vợ: Nguyễn Thị Ngọc L và 01 con;
Tiền án: không;
Tiền sự:
- - Quyết định số 0500698/QĐ-XPHC ngày 01/3/2022 của Công an huyện H, tỉnh Ninh Bình xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác.
- - Quyết định số 0500726/QĐ-XPHC, ngày 16/8/2022 của Công an huyện H, tỉnh Ninh Bình xử phạt 6.500.000 đồng về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác.
Nhân thân :
- - Quyết định số 26/QĐ-XPHC ngày 12/6/2015 của Công an phường N, thành phố N xử phạt 750.000 đồng về hành vi đánh nhau.
- - Bản án số 08/2016/HSST ngày 12/01/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xử phạt 12 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
- - Quyết định số 10/QĐ-XPHC, ngày 25/12/2017 của Công an huyện H, tỉnh Ninh Bình xử phạt 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
- - Quyết định số 15/QĐ-XPVPHC, ngày 08/5/2019 của Phòng C2 Công an tỉnh N xử phạt 2.000.000 đồng về hành vi chuẩn bị dao, cất giấu trong người nhằm mục đích gây thương tích cho người khác.
Các quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 26, số A, số 15; án tích của bị cáo đã được xóa.
bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 29/11/2023 cho đến nay; (có mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Vũ Đức D, sinh năm 1998. Địa chỉ: phố Đ, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt).
* Người làm chứng: Ông Vũ Văn T1, sinh năm 1968; (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bùi Khắc T không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép kinh doanh dịch vụ cấp, cho vay tín dụng hoặc hỗ trợ tài chính nhưng T đã 02 lần cho anh Vũ Đức D vay tiền với mức lãi suất 5.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày (tương đương với mức lãi suất 180%/01 năm), gấp hơn 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 01 Điều 468 Bộ luật dân sự (20%/ năm) để thu lợi bất chính, cụ thể như sau:
- - Ngày 03/8/2022, Bùi Khắc T cho anh Vũ Đức D vay số tiền 10.000.000 đồng, với mức lãi suất 5.000 đồng/1 triệu đồng/1 ngày. T sử dụng tài khoản ngân H2 mang tên Bùi Khắc T chuyển tiền đến tài khoản ngân hàng T2 của anh Vũ Đức D. Khi chuyển tiền cho anh D thì T trừ luôn số tiền 1.500.000 đồng là tiền lãi của tháng đầu tiên và chỉ chuyển cho anh D số tiền 8.500.000 đồng. Cả hai thoả thuận 1 tháng là 30 ngày, một tháng trả lãi một lần với số tiền lãi là 1.500.000 đồng/tháng.
- - Ngày 04/8/2022, Bùi Khắc T cho anh Vũ Đức D vay số tiền 35.000.000 đồng, với lãi suất 5.000 đồng/1 triệu đồng/1 ngày. Khi chuyển tiền cho anh D thì T trừ luôn số tiền 5.000.000 đồng là tiền lãi của tháng đầu tiên và chuyển cho anh D số tiền 30.000.000 đồng; Cả hai thoả thuận 1 tháng là 30 ngày, một tháng trả lãi một lần với số tiền lãi là 5.250.000 đồng/1 tháng.
- - Anh D không có tiền trả lãi cho T từng tháng. Đến ngày 02/3/2023 anh D đã trả cho T số tiền 48.800.000 đồng: trong đó tiền lãi của cả hai khoản vay trên là 40.500.000 đồng và số tiền gốc là 8.300.000 đồng, hai bên thỏa thuận tính cụ thể như sau:
Đối với khoản vay 10.000.000 đồng, tính từ tháng 8 năm 2022 đến ngày 2/3/2023, anh D phải trả cho T số tiền lãi của 07 tháng là 1.500.000 đồng x 7= 10.500.000 đồng, trong đó khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm theo quy định của Bộ luật dân sự mà T được phép thu là 1.166.667 đồng, khoản tiền T thu lợi bất chính là 9.333.333 đồng. Do đã trừ luôn số lãi của tháng đầu tiên nên anh D còn phải trả số tiền lãi của 06 tháng là 9.000.000 đồng cho T.
Đối với khoản vay 35.000.000 đồng, tính từ tháng 8 năm 2022 đến ngày 2/3/2023, anh D phải trả cho T số tiền lãi của 07 tháng là (5.250.000 đồng x 6) + 5.000.000₫ = 36.500.000 đồng, trong đó khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm theo quy định của Bộ luật dân sự mà T được phép thu là 4.083.333 đồng, khoản tiền T thu lợi bất chính là 32.416.667 đồng. Do đã trừ luôn số lãi của tháng đầu tiên là 5.000.000 đồng, nên anh D còn phải thanh toán số tiền lãi của 06 tháng là 31.500.000 đồng cho T.
Như vậy tính đến ngày 02/3/2023, anh D đã trả cho T tổng số tiền lãi là 47.000.000 đồng: trong đó khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm theo quy định của Bộ luật dân sự mà T được phép thu là 5.250.000 đồng, khoản tiền T thu lợi bất chính là 41.750.000 đồng.
Tổng cộng số tiền gốc anh D vay T là 45.000.000 đồng sau khi trừ đi số tiền gốc 8.300.000 đồng do anh D trả ngày 02/3/2023 thì số tiền gốc anh D còn nợ lại T là 36.700.000 đồng. T và anh D thỏa thuận tiếp tục tính lãi với số tiền gốc sau khi gộp 2 khoản vay là 36.700.000 đồng và tiếp tục thỏa thuận lãi suất là 5.000 đồng/1 triệu đồng/1 ngày để anh D tiếp tục trả lãi cho đến khi trả hết gốc.
- - Từ ngày 03/3/2023 đến ngày 15/11/2023 ( thời điểm Cơ quan điều tra Công an thành phố N phát hiện hành vi phạm tội của T), anh D chưa trả thêm cho T số tiền gốc và tiền lãi nào. Tổng số tiền lãi anh D phải trả là 253 ngày tương ứng với số tiền 46.202.000 đồng: trong đó khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm theo quy định của Bộ luật dân sự mà T được phép thu là 5.138.000 đồng, khoản tiền T nhằm thu lợi bất chính là 41.064.000 đồng.
Như vậy tổng số tiền Bùi Khắc T thu lợi bất chính trong quá trình cho anh Vũ Đức D vay tiền là 82.814.000 đồng (đã thu lợi bất chính số tiền là 41.750.000 đồng và nhằm thu lợi bất chính số tiền 41.064.000 đồng).
* Ngày 15/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N nhận được trình báo của anh Vũ Đức D về việc: Từ tháng 08/2022, Bùi Khắc T đã nhiều lần cho anh D vay tiền với lãi suất cao. Cơ quan điều tra đã triệu tập Bùi Khắc T lên làm việc, tại cơ quan điều tra T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã ra lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Bùi Khắc T; Quá trình khám xét không phát hiện tài liệu, đồ vật gì liên quan đến hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự của Bùi Khắc T, không thu giữ tài liệu, đồ vật, tài sản gì.
Căn cứ yêu cầu điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A93 lắp sim 0869199661 và 0879616662 của anh Vũ Văn D1 có các nội dung liên quan việc trao đổi, nhắn tin, chụp số tiền giao dịch cho vay, xác nhận trả tiền gốc, lãi vay, đòi nợ... giữa T và anh D1. Sao kê tài khoản ngân hàng V số [...] mang tên Bùi Khắc T, tài khoản ngân hàng T2 số 19037564179010 mang tên anh Vũ Đức D có giao dịch chuyển, nhận tiền giữa T và anh D.
Tại bản Cáo trạng số 68/CT-VKSND-TPNB ngày 25/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố Bùi Khắc T về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, theo khoản 1, khoản 3 Điều 201 của Bộ luật Hình sự (BLHS).
* Tại phiên toà: Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Tuyên bố: Bị cáo Bùi Khắc T ( Bùi Khắc C1) phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
- - Áp dụng: khoản 1, khoản 3 Điều 201; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Khắc T từ 12 - 15 tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố N, tỉnh Ninh Bình nhận được bản án, quyết định thi hành án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình trong việc giám sát giáo dục bị cáo; Khấu trừ từ 5%-10% thu nhập trong thời gian chấp hành án.
Phạt tiền bổ sung số tiền từ 50.000.000 đồng - 60.000.000 đồng sung quỹ nhà nước.
- - Biện pháp tư pháp: áp dụng Điều 46, Điều 47, Điều 48 BLHS, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Buộc bị cáo Bùi Khắc T phải nộp lại số tiền là 13.550.000 đồng để sung quỹ nhà nước. Buộc bị cáo Bùi Khắc T phải trả lại cho anh Vũ Văn D1 số tiền 41.750.000 đồng. Buộc anh Vũ Đức D phải nộp lại số tiền 36.700.000 đồng để sung quỹ nhà nước.
- - Về án phí: áp dụng Điều 136 BLTTHS, nghị quyết số 326 của UBTVQH ngày 31/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội : bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.
* Tại phiên tòa: bị cáo T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án nêu trên, không có ý kiến tranh luận gì và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với bản tự khai, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, biên bản kiểm tra điện thoại của anh D; phù hợp với số tiền bị cáo, anh D đã chuyển tiền cho nhau qua tài khoản Ngân hàng ( sao kê tài khoản); biên bản làm việc ngày 15/11/2023... Như vậy, đã có đủ căn cứ kết luận:
Trong khoảng thời gian từ ngày 03/8/2022 đến 15/11/2023, trên địa bàn thành phố N, bị cáo Bùi Khắc T đã có hành vi 2 lần cho anh Vũ Đức D vay tổng số tiền gốc là 45.000.000 đồng, với mức lãi suất 5.000 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày (tương ứng với mức lãi suất từ 180%/năm), cao hơn 5 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 01 Điều 468 Bộ luật dân sự (20%/ năm), thu lợi bất chính số tiền 82.814.000 đồng (đã thu lợi bất chính số tiền là 41.750.000 đồng, nhằm thu lợi bất chính số tiền 41.064.000 đồng). Hành vi của bị cáo Bùi Khắc T đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 201 của BLHS.
Điều 201. Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự:
1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
...
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ mà còn xâm phạm đến lợi ích của công dân được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ việc cho người khác vay tiền với lãi suất cao hơn 5 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự là vi phạm pháp luật nhưng vì vụ lợi bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý thể hiện sự coi thường pháp luật. Do vậy cần phải xử lý nghiêm minh buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự để răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong nhân dân.
- - Về nhân thân: Bị cáo 05 lần bị xử phạt vi phạm hành chính, 1 lần bị kết án cho thấy bị cáo là người có nhân thân không tốt.
- - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có.
- - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng điểm s khoản 1Điều 51 BLHS.
Căn cứ quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, Hội đồng xét xử thấy bị cáo có nhân thân không tốt nhiều lần bị áp dụng biện pháp xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền, bị kết án nhưng bị cáo vẫn không chịu sửa chữa, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên cần áp dụng Điều 36 BLHS cho bị cáo được hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú để giám sát, giáo dục; bị cáo làm nghề lao động tự do có thu nhập nên trong thời gian chấp hành án hàng tháng bị khấu trừ một phần thu nhập là 5% để sung ngân sách nhà nước.
- - Về hình phạt bổ sung: bị cáo thực hiện hành vi cho vay lãi nặng để thu lợi bất chính và cũng để đảm bảo nguyên tắc xét xử cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 201BLHS.
[2] Các vấn đề khác:
[2.1]. Đối với chiếc điện thoại Iphone 12Pro max bị cáo Bùi Khắc T đã sử dụng làm công cụ phương tiện để thực hiện hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự với anh Vũ Đức D, bị cáo khai đã làm mất chiếc điện thoại, Cơ quan điều tra không thu hồi được nên không có căn cứ xử lý.
[2.2]. Các biện pháp tư pháp:
- - Đối với toàn bộ khoản tiền gốc 45.000.000 đồng mà bị cáo Bùi Khắc T dùng để cho vay được xác định là phương tiện phạm tội nên tịch thu, sung quỹ nhà nước. Do vậy cần buộc bị cáo Bùi Khắc T phải nộp lại khoản tiền gốc mà anh Vũ Đức D đã trả lại cho bị cáo là 8.300.000 đồng; Buộc anh Vũ Đức D chưa trả khoản tiền gốc cho bị cáo T phải nộp lại khoản tiền gốc là 36.700.000đồng.
- - Đối với khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự là 20%/năm mà bị cáo T đã thu của anh D từ ngày 03/8/2022 đến ngày 02/3/2023 là 5.250.000 đồng. Đây là khoản tiền phát sinh từ tội phạm, do đó cần buộc bị cáo phải nộp lại để tịch thu, sung công quỹ nhà nước.
- - Đối với khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất trên 20%/năm mà bị cáo T thực tế đã thu của anh D từ ngày 03/8/2022 đến ngày 02/3/2023 là 41.750.000 đồng, đây là khoản tiền bị cáo thu lợi bất chính của anh D, nên cần buộc bị cáo T phải trả lại cho anh D.
- - Đối với khoản tiền lãi mà anh D chưa trả cho bị cáo T từ ngày 03/3/2023 đến ngày 15/11/2023 là ngày Cơ quan điều tra phát hiện ra hành vi phạm tội của bị cáo là 41.064.000 đồng: thực tế bị cáo chưa thu số tiền này của anh D nên trường hợp này chỉ xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo về số tiền nhằm thu lợi bất chính chứ không buộc bị cáo phải nộp lại khoản tiền lãi theo quy định của Bộ luật dân sự và trả lại cho anh D về số tiền lãi vượt quá quy định của Bộ luật dân sự.
[2.3] Quá trình điều tra còn xác định ngày 03/8/2023 Bùi Khắc T còn thực hiện chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng cho chị Đinh Thị Y, anh Nguyễn Mạnh K, chị Lê Thị Thúy N1, anh Nguyễn Văn H1. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã tiến hành triệu tập những người này đến làm việc nhưng tất cả họ và bị cáo T đều khai đây là những khoản họ đã vay của bị cáo T nhưng bị cáo T không tính lãi và họ đã trả tiền gốc cho bị cáo T. Đây là những giao dịch dân sự không vi phạm pháp luật.
[3] Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[4] Từ nhận định trên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
[5] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1, khoản 3 Điều 201; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự; Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Điều 468 Bộ luật dân sự.
- - Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.
1 - Tuyên bố: Bị cáo Bùi Khắc T (C1) phạm tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.
2 - Xử phạt: Bị cáo Bùi Khắc T 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố N, tỉnh Ninh Bình nhận được quyết định thi hành án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình trong việc giám sát giáo dục bị cáo; Trong thời gian chấp hành án, hàng tháng bị cáo còn bị khấu trừ một phần thu nhập là 5% để sung ngân sách Nhà nước. Phạt tiền bổ sung 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) để sung ngân sách nhà nước.
Trường hợp bị cáo T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự
- - Buộc bị cáo Bùi Khắc T phải nộp lại khoản tiền gốc mà anh Vũ Đức D đã trả cho bị cáo là 8.300.000 đồng và khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự (20%/năm) mà bị cáo đã thu của anh Vũ Đức D là 5.250.000 đồng; Tổng cộng 02 khoản là 13.550.000 đ ( mười ba triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng ) để tịch thu, sung quỹ nhà nước.
- - Buộc anh Vũ Đức D chưa trả khoản tiền gốc cho bị cáo Bùi Khắc T phải nộp lại khoản tiền gốc để tịch thu, sung quỹ nhà nước là 36.700.000đ ( ba mươi sáu triệu bảy trăm nghìn đồng).
- - Buộc bị cáo Bùi Khắc T phải trả lại cho anh Vũ Đức D khoản tiền thu lợi bất chính mà bị cáo T thực tế đã thu của anh D là 41.750.000 đ (bốn mươi mốt triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án ( đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
4. Về án phí: bị cáo Bùi Khắc T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7a, 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Giang Thị Thúy Thu |
Bản án số 79/2024/HS-ST ngày 04/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 79/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 15 tháng cải tạo không giao giữ
