Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ H

TỈNH T

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2023/HS-ST

Ngày: 03-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ H, TỈNH T

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Ly.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Thạch;

Bà Nguyễn Thị Bích Liễu.

- Thư ký phiên tòa:

bà Trương Thị Thảo Quyên – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thị xã H, tỉnh T.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã H, tỉnh T tham gia phiên tòa:

Ông Lê Công Tiến - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 11 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã H, tỉnh T xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 70/2023/TLST-HS ngày 12 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2023/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trương Minh T, sinh năm 1989, tại Tây Ninh; Nơi cư trú: số nhà 04, Tổ 11, ấp B, xã BM, thành phố T, tỉnh T; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ học vấn 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trương Hữu T và bà Lê Thị H. Vợ Trần Thị K (đã ly hôn) và hai con;

Tiền án: Không có.

Tiền sự: bị cáo có 02 tiền sự:

  • - Tại quyết định số 31, ngày 28-7-2020, Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh T, áp dụng khoản 02 Điều 9; điểm b, khoản 1 Điều 10; Điều 95, 96 và khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 18 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” (chấp hành xong ngày 22-7-2021).

  • - Tại quyết định số 58, ngày 12-9-2021, Công an xã Đồng Khởi, huyện Châu Thành, tỉnh T áp dụng Nghị định số 167/2013/NĐ-CP của Chính phủ, xử phạt 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Nhân thân: Tại bản án số 100/2018/HSST ngày 21-11-2018 của Tòa án nhân dân thành phố T tuyên phạt bị cáo Trương Minh T 01 năm tù về tội “Tràng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, bị cáo chấp hành hình phạt tù xong ngày 29-8-2019, chấp hành án phí xong ngày 15-01-2019, (đã được xóa án tích).

Bị cáo bị tạm giữ ngày 29-6-2023, tạm giam ngày 08-7-2023 đến nay. Có mặt phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trương Minh T là đối tượng sử dụng ma túy, ngày 29-6-2023 do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Tâm điều khiển xe mô tô đến khu vực xã Trường Lưu, thị xã H, tỉnh T gặp một người tên Trung (không rõ nhân thân, địa chỉ) để mua của Trung 01 bịch ma túy với giá 800.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Tâm cất giấu trong túi quần bên trái đang mặc rồi điều khiển xe mô tô về nhà. Lúc 14 giờ 30 phút cùng ngày, khi T đi đến khu vực cửa 12 Nội ô Tòa thánh thuộc khu phố 4, phường Long Hoa, thị xã H, tỉnh T thì bị lực lượng tuần tra Công an phường L, thị xã H dừng xe kiểm tra, phát hiện thu giữ trong túi quần phía trước bên trái T đang mặc 01 bịch nylon loại bóp dính miệng có chứa chất tinh thể màu trắng, được niêm phong, ký hiệu M.

Quá trình điều tra, Trương Minh T đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình.

  • * Tại Kết luận giám định số 1006/KL-KTHS ngày 07-7-2023

    của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T kết luận: Mẫu chất màu trắng bên trong 01 bịch nylon loại bóp dính miệng (ký hiệu M) gửi đến giám định là chất ma túy; Loại Methamphetamin; khối lượng 0,9471gam.

Qua xác minh, Trương Minh T không có tài sản nên không kê biên.

Đối với người tên Trung bán ma túy cho Tâm hiện chưa xác định được, khi nào làm rõ xử lý sau.

Tại bản cáo trạng số 71/CT-VKSHT ngày 11-10-2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã H, tỉnh T đã truy tố bị cáo Trương Minh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

- Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố trong phần tranh luận: Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh và điều luật đối với bị cáo Trương Minh T đề nghị áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trương Minh T mức án từ 02 năm đến 03 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

- Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, Bị cáo xin hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất để bị cáo sớm cải tạo về lao động làm người có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã H, tỉnh T, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã H, tỉnh T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: khoảng 14 giờ 30 phút ngày 29-6-2023, Công an phường L, thị xã H, tỉnh T nghi vấn bị cáo Trương Minh T sử dụng ma túy nên tiến hành kiểm tra phát hiện và thu giữ của Bị cáo Tâm 01 (một) bịch nylon loại bóp dính miệng bên trong là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,9471 gam. Hành vi của bị cáo đủ các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

[3] Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự trị an, làm gia tăng tệ nạn và các tội phạm về ma túy, gây ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của con người, hủy hoại sức khỏe, giảm khả năng lao động, tăng nguy cơ lây nhiễm các căn bệnh HIV-AIDS và là một trong những nguyên nhân gây ra tội phạm khác; nên cần phải có hình phạt tương xứng đối với bị cáo để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tuy nhiên bị cáo có nhân thân xấu, có 2 tiền sự, đã bị Tòa án nhân dân thành phố T xử phạt 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đã xóa án tích. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiêm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Trên cơ sở xem xét về nhân thân của bị cáo và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để đảm bảo tính răn đe và giáo dục đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có tài sản nên miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[4] Xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với 01 gói niêm phong ghi vụ số 1006 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Thị Tuyết M, trợ lý Phan Quốc V và dấu tròn màu đỏ của của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T; khối lượng sau giám định M 0,7784 gam, kèm theo kết luận giám định số 1006/KL-KTHS ngày 07-7-2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T là chất ma túy nên cần tịch thu tiêu hủy;

Đối với một điện thoại di động hiệu Vivo, màu đen, số Imeil: 860737045579170, số Imei2: 860737045579162, đã qua sử dụng, bị cáo sử dụng vào việc mua bán ma túy nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Trương Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt bị cáo Trương Minh T 02 (Hai) năm tù, thời hạn thi hành hình phạt tù được tính từ ngày 29-6-2023.

  2. Xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

    Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong ghi vụ số 1006 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Thị Tuyết M, trợ lý Phan Quốc V và dấu tròn màu đỏ của của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T; khối lượng sau giám định M 0,7784 gam, kèm theo kết luận giám định số 1006/KL-KTHS ngày 07-7-2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T.

    Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước một điện thoại di động hiệu Vivo, màu đen, số Imeil: 860737045579170, số Imei2: 860737045579162, đã qua sử dụng.

  3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trương Minh T phải chịu 200.000 đồng.

Án hình sự sơ thẩm xử công khai, báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh T trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh T;
  • - Sở Tư pháp tỉnh T;
  • - VKSND thị xã H;
  • - CCTHADS thị xã H;
  • - Công an thị xã H;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu tập án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 79/2023/HS-ST ngày 03/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ H, TỈNH T về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 79/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ H, TỈNH T
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trương Minh T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger