TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc |
Bản án số: 79/2024/DS-ST
Ngày: 02-8-2024
v/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thái
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Mai Thương;
- Bà Nguyễn Thị Bình.
-Thư ký phiên tòa: Trịnh Văn Ngọc- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.
-Đại diện Viện kiểm nhân dân huyện Đ, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh T- Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 8 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Đức Linh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 193/2024/TLST- DS, ngày 14/5/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 99/2024/QĐXXST-DS ngày 27/6/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 137/2024/QĐST-DS, ngày 19/7/2024; giữa:
- Nguyên đơn: Ngân hàng N
Địa chỉ: Số A T, phường M, quận N, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V; chức vụ: Tổng Giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hữu P; chức vụ: Giám đốc Ngân hàng N chi nhánh huyện Đ.
Địa chỉ: Số B đường C, khu phố I, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện theo ủy quyền lại: Bà Cao Thị Hồng H; chức vụ: Giám đốc Phòng G, huyện Đ.
- Bị đơn: Bà Khiếu Thị A, sinh năm 1994. Vắng mặt.
Địa chỉ: Số C đường số B, thôn B, xã V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Khiếu Văn Q, sinh năm 1962; ông Khiếu Minh T1, sinh năm 1985. Đều vắng mặt.
Địa chỉ: Số C đường số B, thôn B, xã V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 22/4/2024 cùng các tài liệu, chứng cứ kèm theo, bản khai, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày, có nội dung tóm tắt như sau: Ngày 12/01/2022, bà Khiếu Thị A được ông Khiếu Văn Q và Khiếu M Thành ủy quyền đứng ra ký hợp đồng vay của Ngân hàng N, chi nhánh huyện Đ, Phòng G (gọi tắt là Ngân hàng) số tiền 200.000.000 đồng, thời hạn vay đến ngày 12/01/2023, lãi suất thỏa thuận là 9%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% của lãi suất trong hạn, mục đích vay dùng vào việc xây dựng chuồng trại để chăn nuôi. Trong quá trình vay bà A chỉ thanh toán cho Ngân hàng tiền lãi đến ngày 31/01/2023. Hiện còn nợ lại Ngân hàng tiền gốc 200.000.000 đồng, tiền lãi quá hạn tính đến nay (02/8/2024) là 40.610.959 đồng.
Nay Ngân hàng yêu cầu bà A, ông Q, ông T1 phải thanh toán số nợ gốc là 200.000.000 đồng và tiền lãi quá hạn (lãi suất 13,5%/năm), tính đến ngày xét xử là 40.610.959 đồng. Đồng thời yêu cầu bà A, ông Q, ông T1 tiếp tục trả lãi quá hạn kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán xong nợ gốc cho Ngân hàng, theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
Tại bản khai ngày 18/6/2024 bị đơn bà Khiếu Thị A trình bày: Năm 2022 bà A có đến Phòng giao dịch Ngân hàng N, chi nhánh huyện Đ ký hợp đồng vay số
tiền 200.000.000 đồng, với lãi suất 9%/năm. Bà A xin được Ngân hàng đáo hạn 01 lần nữa, đồng thời hứa sẽ thanh toán đầy đủ cho Ngân hàng gốc và lãi theo yêu cầu.
Trong quá trình tố tụng ông Khiếu Văn Q và ông Khiếu Minh T1 không đến tham gia tố tụng, nên Tòa án không ghi nhận ý kiến của của ông Q, ông T1 về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án đã thông báo về Thông báo thụ lý vụ án; thông báo phiên họp về chứng và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho bà A, ông Q, ông T1 được biết. Tuy nhiên, đến nay Tòa án vẫn chưa nhận được ý kiến hay khiếu nại gì của họ.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về giải quyết vụ án:
-Phần thủ tục: Thẩm phán thụ lý vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp đúng quy định. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tiến hành xét xử vụ án đúng thủ tục. Nguyên đơn chấp hành pháp luật đúng theo quy định. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tuân thủ các quy định về tố tụng. Vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do, nên xét xử vắng mặt.
-Về nội dung: Căn cứ chứng cứ trong hồ sơ, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về phần thủ tục: Do bị đơn có nơi cư tại xã V, huyện Đ, nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện, theo khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa vắng mặt bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nhưng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2; sáng ngày 2/8/2024 ông Khiếu Minh T1 đến Tòa án và yêu cầu hoãn phiên tòa, để gia đình chữa bệnh cho bố. Hội đồng xét xử không chấp nhận, nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp, áp dụng pháp luật để giải quyết quan hệ tranh chấp: Căn cứ đơn khởi kiện, chứng cứ kèm theo, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp: Tranh chấp hợp đồng tín dụng. Quan hệ được xác lập vào năm 2022, nên áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Tổ chức các tín dụng để giải quyết.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là yêu cầu bà Khiếu Thị A, ông Khiếu Văn Q và ông Khiếu Minh T1 trả nợ vay 200.000.000 đồng là có căn cứ; bởi nguyên đơn có đưa ra các chứng cứ: Hợp đồng ủy quyền được xác lập và công chứng ngày 27/12/2021, với nội dung là ông Q và ông Thành ủy q cho bà A thay mặt xác lập, thực hiện việc vay vốn tại Ngân hàng. Căn vào giấy ủy quyền này, ngày 12/01/2022 bà A đã ký hợp đồng tín dụng số 4813-LAV-202200260, để vay của Ngân hàng số tiền 200.000.000 đồng; thời hạn vay 12 tháng, kể từ ngày ký đến ngày 12/01/2023; lãi suất vay là 9%/năm, nếu để quá hạn phải chịu lãi suất bằng 150% của lãi suất trong hạn; mục đích vay là để chăn nuôi heo. Theo chứng cứ do Ngân hàng cung cấp; thể hiện sau khi vay bà A mới chỉ thanh toán tiền lãi cho Ngân hàng đến ngày 31/01/2023, từ ngày 01/2/2023 cho đến nay bà A chưa thanh toán nợ lãi và gốc cho Ngân hàng. Như vậy bà A đã để khoản vay trên quá thời hạn, kể từ ngày 13/01/2023 cho đến nay. Do đó cần buộc bà A, ông Q1 và ông T1 phải trả khoản vay 200.000.000 đồng cho Ngân hàng là phù hợp Điều 463, khoản 1, 2, 3 Điều 466 Bộ luật Dân sự.
[4].Về yêu cầu xin đáo hạn của bà A, đại diện Ngân hàng không đồng ý, nên không thể thỏa mãn yêu cầu này của bà A.Vì bà A đã vi phạm thỏa thuận về thời hạn vay, cũng như nghĩa vụ trả gốc và lãi trong hợp đồng tín dụng đã ký kết với Ngân hàng.
[5] Về tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ: Theo trong hợp đồng vay ngày 12/01/2022, lãi suất hai bên thỏa thuận là 9%/năm, lãi quá hạn không quá 150% lãi suất trong hạn. Thời hạn vay chỉ đến ngày 12/01/2023, nhưng bà A mới chỉ trả lãi đến ngày 31/01/2023. Do vậy bà A, ông Q và ông T1 phải chịu trách nhiệm trả lãi mức 150% của 9%/năm là 13,5%/năm (tương đương 1,125%/tháng) kể từ ngày
01/2/2023 cho đến nay là phù hợp khoản 5 Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự; Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng.
[5.1].Tiền lãi quá hạn được tính như sau: Từ ngày 01/2/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm (2/8/2024) là 01 năm 06 tháng 01 ngày = 18 tháng 01 ngày. Số tiền lãi quá hạn được tính là: 200.000.000 đồng x 1,125% x (18 +1/30) = 40.575.000 đồng.
[5.2].Đồng thời bà A, ông Q, ông T1 còn phải thanh toán tiền lãi quá hạn 13,5%/năm kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán xong số nợ vay, là phù hợp với đoạn 10 trong phần nhận định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao của Án lệ số 08/2016/AL, được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2016 và được công bố theo Quyết định số 689/QĐ- CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
[6] Về án phí: Bà A, ông Q, ông T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
[7] Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 96, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, 94, 95 Luật Các tổ chức tín dụng; Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2016 và được công bố theo Quyết định số 689/QĐ- CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Buộc bà Khiếu Thị A, ông Khiếu Văn Q và ông Khiếu Minh T1 liên đới trả cho Ngân hàng N- Chi nhánh huyện Đ, tỉnh Bình Thuận- Phòng G số tiền 240.575.000 đồng (trong đó tiền gốc 200.000.000 đồng, tiền lãi quá hạn 40.575.000 đồng).
Bà Khiếu Thị A, ông Khiếu Văn Q và ông Khiếu Minh T1 tiếp tục trả lãi quá hạn 13,5%/năm từ ngày kế tiếp ngày xét xử sơ thẩm (ngày 02/8/2024) cho đến khi trả xong số nợ gốc 200.000.000 đồng cho Ngân hàng N- Chi nhánh huyện Đ, tỉnh Bình Thuận, Phòng G1
- Về án phí: Bà Khiếu Thị A, ông Khiếu Văn Q và ông Khiếu Minh T1 phải chịu 12.028.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho Ngân hàng N- Chi nhánh huyện Đ, tỉnh Bình Thuận 5.827.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004491, ngày 14/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, người đại diện có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án: 02/8/2024. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được hoặc ngày niêm yết bản án, để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
- Trường hợp bản án thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận: -VKSND huyện; -THADS huyện; -Các đương sự; -Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Thái |
Bản án số 79/2024/DS-ST ngày 02/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 79/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Do bà A vay tiền đến hàng không trả, nên Ngân hàng A khởi kiện buộc bà a và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải thực hiện việc thanh toán lãi, gốc cho Ngân hàng.
