Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẮC BÌNH

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 79/2024/HS-ST

Ngày: 27 - 8 -2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH - TỈNH BÌNH THUẬN

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Quốc Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: + Bà Nguyễn Thị Hạnh

+ Ông Bá Đình Tâm

-Thư ký phiên tòa: Bà Minh Thị Thu Hòa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thương - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 67/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:

Bùi Ngọc Đ; Sinh năm 1989

Nơi sinh: Tỉnh Hà Tĩnh.

Đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn B, xã B, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

Nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Ngọc Ư, sinh năm 1966 và bà Lê Thị H, sinh năm 1966; Đều trú tại: Thôn B, xã B, huyện B, tỉnh Bình Thuận; Vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân: Ngày 13/6/2007 bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình xử phạt 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 19/6/2007 được trả tự do (thời hạn tù ngắn hơn thời hạn thi hành án). Ngày 26/9/2011 bị Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc xử phạt 30 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành án đến ngày 05/9/2013 về địa phương, hiện đã xóa án tích.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, hiện đang tại ngoại ở tại thôn B, xã B, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Lý Phượng H1, sinh năm 1990 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn B, xã B, huyện B, Bình Thuận

- Người làm chứng: Anh Nguyễn Quang H2, sinh năm 1985 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện B, Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 11/3/2024, Bùi Ngọc Đ, sinh năm 1989 ở thôn B, xã B, huyện B, tỉnh Bình Thuận đi bộ từ nhà ở thôn B ra chợ B (chợ B1) với mục đích tìm người dân để tài sản sơ hở thì lấy trộm bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Đến khoảng 02 giờ 00 phút ngày 12/3/2024, Đ đi đến trại nghỉ mát của bà Nguyễn Thị T (cách chợ B khoảng 100 mét, cách nhà Đ 02km), Đ nhìn thấy Lý Phượng H1, sinh năm 1990 ở cùng thôn đang nằm ngủ trên võng, bên dưới võng H1 nằm ngủ để 01 cái điện thoại di động hiệu Oppo A58, màu đen đang cắm sạc pin. Đệ nhìn thấy H1 đã ngủ say nên Đ lén lút đi vào nơi để cái điện thoại, Đ dùng tay rút dây sạc pin ra khỏi điện thoại rồi cầm điện thoại trên tay đi về nhà. Trên đường đi, Đ tắt nguồn điện thoại và mở ốp lưng điện thoại lấy sim ra bẻ gãy ném trên đường (không xác định địa điểm ném), Đ cầm điện thoại trộm được về nhà cất giấu vào tủ quần áo của gia đình rồi đi ngủ. Đến khoảng 14 giờ 00 phút ngày 12/3/2024, Đ lấy điện thoại cầm đến tiệm điện thoại di động Hoàng L ở cùng thôn để chạy lại phần mềm với mục đích mở khóa điện thoại. Sau khi mở được khóa điện thoại, Đ cầm điện thoại trên đến cửa hàng điện thoại Thiên Ý của Nguyễn Quang H2 ở chợ B để bán. Sau khi kiểm tra máy, H2 nói mua giá 1.800.000 đồng, Đ đồng ý bán. H2 đưa cho Đ số tiền 1.800.000 đồng, Đ cầm lấy tiền bán cái điện thoại tiêu xài cá nhân hết 900.000 đồng, còn 900.000 đồng Đ mang về cất giấu vào tủ quần áo của gia đình.

Lý Phượng H1 sau khi ngủ dậy thì phát hiện mất cái điện thoại di động hiệu Oppo A58, màu đen nên đi tìm kiếm tại các tiệm điện thoại di động trên địa bàn, đến khoảng 15 giờ ngày 12/3/2024, H1 vào cửa hàng điện thoại Thiên Ý của Nguyễn Quang H2 ở chợ B thì phát hiện cái điện thoại di động hiệu Oppo A58, màu đen có đặc điểm giống cái điện thoại di động hiệu Oppo A58, màu đen của H1 bị mất trộm nên H1 trình báo Công an xã B. Công an xã B đến cửa hàng Đ1 làm việc với Nguyễn Quang H2 và trích xuất camera tại cửa hàng điện thoại thì phát hiện người bán cái điện thoại di động hiệu Oppo A58, màu đen của Lý Phượng H1 là Bùi Ngọc Đ nên tiến hành thu giữ cái điện thoại di động hiệu Oppo A58, màu đen. Sau đó mời Bùi Ngọc Đ đến trụ sở Công an xã B làm việc, biết không thể chối cãi nên Đ đã thừa nhận lấy trộm cái điện thoại di động hiệu Oppo A58, màu đen của Lý Phượng H1 bán cho Nguyễn Quang H2 lấy số tiền 1.800.000 đồng. Nguyễn Quang H2 khai khi mua không biết điện thoại di động hiệu Oppo A58, màu đen do Bùi Ngọc Đ trộm cắp đem bán.

Theo Kết luận định giá tài sản số 20/2024/KL-HĐĐGTS ngày 19/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B, kết luận: 01 (một) cái điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A58, Ram H, Rom A, màu đen, số Imeil: 865039065500219, số I: 865039065500201 mua mới vào ngày 12/11/2023, bị móp kích thước (02 x 01) mm ở cạnh dưới bên trái bị trộm cắp vào ngày 12/3/2024 tại xã B với giá 4.792.000 đồng. (B1 số 55)

Về tang, vật chứng: Công an xã B thu giữ cái điện thoại di động hiệu Oppo A58, màu đen do Nguyễn Quang H2 giao nộp. Cơ quan điều tra đã giao trả cái điện thoại di động hiệu Oppo A58, màu đen cho bị hại Lý Phượng H1 theo quy định.

Về phần dân sự: Người bị hại Lý Phượng H1 đã nhận lại cái điện thoại di động hiệu Oppo A58, màu đen do Cơ quan điều tra giao trả và không yêu cầu bồi thường.

Bùi Ngọc Đ giao trả số tiền 1.800.000 đồng cho Nguyễn Quang H2, H2 đã nhận đủ số tiền 1.800.000 đồng và không yêu cầu gì thêm. Vì vậy không xem xét giải quyết.

Tại Bản Cáo trạng số 76/CT-VKS.HBB, ngày 02 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình đã truy tố bị cáo Bùi Ngọc Đ về tội “ Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 ( Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) . Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình luận tội đối với bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố: Bùi Ngọc Đ phạm tội: “ Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 ( Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và áp dụng: Khoản 1 Điều 173 ; Điểm h, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 ( Đã được sửa đổi bổ sung năm 2017);

Xử phạt: Bị cáo Bùi Ngọc Đ từ 06 đến 09 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự:

Đã được giải quyết trong giai đoạn điều tra nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét

Bị cáo Bùi Ngọc Đ không tranh luận gì, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình,Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền,trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, chuẩn bị xét xử và tại phiên toà hôm nay, bị cáo Bùi Ngọc Đ không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, anh Lý Phượng H1, anh Nguyễn Quang H2 đã được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Theo quy định tại Điều 292 và Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh Lý Phượng H1, anh Nguyễn Quang H2 là đúng theo quy định của pháp luật

[3] Về nội dung

Trong giai đoạn điều tra và tại phiên toà hôm nay, bị cáo Bùi Ngọc Đ đã thừa nhận: Vào khoảng 02 giờ 00 phút ngày 12/3/2024 tại trại nghỉ mát của nhà bà Nguyễn Thị T ở thôn B, xã B, huyện B, tỉnh Bình Thuận. Bị cáo Bùi Ngọc Đ lén lút, bí mật lấy trộm cái điện thoại di động hiệu Oppo A58, màu đen trị giá 4.792.000 đồng của ông Lý Phượng H1 đem bán cho Nguyễn Quang H2 lấy số tiền 1.800.000 đồng thì bị phát hiện, thu hồi cái điện thoại.

Với hành vi nêu trên và hậu quả để lại, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình đã truy tố bị cáo Bùi Ngọc Đ về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1; Điều 173 BLHS là có cơ sở và đúng pháp luật.

Bị cáo hoàn toàn nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội phải bị xử lý nhưng do bản chất tham lam, tư lợi cá nhân và xem thường pháp luật, bị cáo đã phạm tội. Bị cáo phạm tội do lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo có nhân thân xấu.

Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người bị hại mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Do đó, nghĩ nên tuyên cho bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội do bị cáo gây ra để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội đồng thời để răn đe các đối tượng khác có ý đồ phạm tội tương tự.

[4]Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tuy nhiên, xét sau khi phạm tội, bị cáo Bùi Ngọc Đ thành khẩn khai báo, thực hiện hành vi phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn. Tài sản trộm cắp đã được thu hồi giao trả cho bị hại. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm h, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017). HĐXX sẽ quan tâm để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

[5]Về trách nhiệm dân sự:

Người bị hại Lý Phượng H1 đã nhận lại cái điện thoại di động hiệu Oppo A58, màu đen do Cơ quan điều tra giao trả và không yêu cầu bồi thường nên HĐXX không xem xét

Bùi Ngọc Đ đã trả số tiền 1.800.000 đồng cho Nguyễn Quang H2, H2 không yêu cầu gì thêm nên HĐXX không xem xét

[6]Về hình phạt bổ sung:

Bị cáo không có nghề nghiệp nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về án phí:

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8]Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của BLTTHS.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 268; Khoản 1 Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Ngọc Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi bổ sung năm 2017)

Xử phạt: Bị cáo Bùi Ngọc Đ 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.

Áp dụng: Khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a, Khoản 1; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí HSST

Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • -VKSND huyện Bắc Bình;
  • -Công an huyện BắcBình;
  • -Chi cục THADS huyện Bắc Bình;
  • -Bị cáo, bị hại, người liên quan
  • -Lưu HS+VP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

LÂM QUỐC TUẤN

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 79/2024/HS-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH - TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 79/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự Sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH - TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Ngọc Đ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger