TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI TỈNH BÌNH PHƯỚC Bản án số: 93/2024/HS-ST Ngày: 02 - 7 - 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Ngọc Linh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Xuân Nhi, ông Trần Kim Thành.
-Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Bích Thùy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Dũng - Kiểm sát viên
Ngày 02 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 70/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 105/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Bùi Ngọc T (tên gọi khác: T1), sinh năm 1988, tại Bình Phước; nơi đăng ký thường trú: thôn P, xã P, huyện P, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không, Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Bùi Ngọc H, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1968; bị cáo có vợ là Nguyễn Kiều T2, sinh năm 1996 và có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/02/2024 cho đến nay “Bị cáo có mặt tại phiên tòa”.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Kiều T2, sinh năm: 1996; Địa chỉ nơi cư trú: thôn P, xã P, huyện P, tỉnh Bình Phước (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do có nhu cầu sử dụng ma túy, khoảng 17 giờ ngày 29/01/2024, Bùi Ngọc T điều khiển xe ô tô biển số: 93A - 416.51 đi từ huyện P xuống khu vực Chợ Đ1 thuộc phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước, gặp một người tên T3 (không xác định được nhân thân, lai lịch) là người Thành quen biết trước đó nhờ T3 hỏi mua giùm 200.000 đồng tiền ma túy thì T3 đồng ý. Sau đó, T3 gọi điện thoại hỏi mua ma túy cho T và kêu T đi đến bên hông trường THPT Đ2 sẽ có người bán ma túy, nói xong T3 bỏ đi. Lúc này, T điều khiển ô tô đi đến bên hông trường THPT Đ2 thuộc khu phố P, phường T. Tại đây, một người thanh niên (không xác định được nhân thân lai lịch) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh đen (không rõ biển số) đi đến gặp và đưa cho T 01 (một) gói nylon bên trong chứa ma túy đá thì T đưa 200.000 đồng. Sau khi nhận được tiền thì người thanh niên bỏ đi còn T cất giấu gói ma túy đá vừa mua được vào trong túi quần. Sau đó, T điều khiển xe ô tô đi về hướng thành phố Hồ Chí Minh. Trên đường đi, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên T dừng xe lại tại khu vực thuộc huyện P, tỉnh Bình Dương và lấy gói ma túy đá đổ hết vào nỏ thủy tinh trong bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá rồi sử dụng. Sau khi sử dụng xong, số ma túy còn lại trong bộ dụng cụ thì T bỏ trong hộp giấy màu vàng, để trong hộc đựng nước cánh cửa phía trước chỗ người lái xe ngồi và tiếp tục điều khiển xe ô tô biển số 93A - 416.51 đi đón khách thuê xe. Sau đó T về nhà sinh hoạt bình thường. Đến khoảng 15 giờ 30 phút ngày 01/02/2024, khi T điều khiển xe ô tô biển số 93A - 416.51 trên đường ĐT741 thuộc ấp C, xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước thì lực lượng Công an tỉnh B dừng xe kiểm tra hành chính, phát hiện trong hộp giấy màu vàng trong hộc đựng nước cánh cửa phía trước, chỗ T ngồi lái xe có bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá trong nỏ thủy tinh có chất rắn màu trắng nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ tang vật.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Bùi Ngọc T tại thôn P, xã P, huyện P, tỉnh Bình Phước phát hiện: 02 (hai) khối hình bầu dục, mỗi khối dài 17cm, chu vi thân (chỗ lớn nhất) là 37cm, trên thân mỗi khối có dán tem giấy màu trắng có in chữ nước ngoài và chữ số “012-14”; 04 (bốn) khối hình bầu dục, mỗi khối dài 17cm, chu vi thân (chỗ lớn nhất) là 37cm, trên thân mỗi khối có dán tem giấy màu trắng có in chữ nước ngoài và chữ số “K9905"; 03 (ba) khối hình bầu dục, mỗi khối dài 17cm, chu vi thân (chỗ lớn nhất) là 37cm, trên thân mỗi khối có dán tem giấy màu trắng có in chữ nước ngoài và chữ số “VJ252”; 03 (ba) khối hình bầu dục, mỗi khối dài 10cm, chu vi thân (chỗ lớn nhất) là 23cm, trên thân mỗi khối có dán tem giấy màu trắng có in chữ nước ngoài và chữ số “VJ317”; 01 (một) khối hình bầu dục, dài 10cm, chu vi thân (chỗ lớn nhất) là 23cm, trên thân mỗi khối có dán tem giấy màu trắng có in chữ nước ngoài và chữ số “VJ306”; 11 (mười một) khối hình hộp, mỗi khối có kích thước (16,5x16,5)cm, bên ngoài mỗi khối có dán tem nhiều màu sắc có in chữ nước ngoài và chữ số “KS4-4911L”, bên trong mỗi khối có 49 ống giấy hình trụ tròn; 01 (một) khối hình hộp, mỗi khối có kích thước (24x24x10)cm, bên ngoài mỗi khối có dán tem nhiều màu sắc có in chữ nước ngoài và chữ số “KS4-4911L”, bên trong có 100 ống giấy hình trụ tròn; 08 (tám) khối hình bầu dục, mỗi khối dài 10cm, chu vi thân (chỗ lớn nhất) là 23cm, trên thân mỗi khối có dán tem giấy màu trắng có in chữ nước ngoài và chữ số “VJ319”; 12 (mười hai) khối hình bầu dục, mỗi khối dài 10cm, chu vi thân (chỗ lớn nhất) là 23cm, trên thân mỗi khối có dán tem giấy màu trắng có in chữ nước ngoài và chữ số “VJ315”.
Quá trình điều tra, T khai nhận như sau: Khoảng 16 giờ ngày 25/01/2024 do muốn mua pháo về cất giấu bán lại kiếm lời trong dịp tết Nguyên Đán nên đã liên lạc với người thanh niên tên Đ (không xác định được nhân thân lại lịch) ở xã L, huyện P, tỉnh Bình Phước để nhờ Đ hỏi mua giùm: 01 khối pháo loại 100 ống/ khối, 11 khối pháo loại 49 ống/khối và 35 cục pháo loại đầu ông sư thì Đ đồng ý và báo giá tổng số pháo T đặt là 12.650.000 đồng (Mười hai triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng) và kêu T đến ngã ba thị trấn T, huyện B, tỉnh Bình Phước sẽ có người giao pháo. Sau đó, T thuê xe ôm (không rõ lai lịch) đến điểm hẹn và gọi điện thoại lại cho Đ thông báo đã tới. Một lúc sau, có người đàn ông (không xác định được nhân thân lai lịch) đến gặp và giao pháo hoa cho T như đã thỏa thuận trước đó, đồng thời T đưa số tiền 12.650.000 đồng và nhờ người này đưa 200.000 đồng cho Đ là tiền công giới thiệu chỗ mua pháo. Sau khi nhận pháo xong T thuê xe ôm mang số pháo hoa trên về nhà của cha vợ là ông Nguyễn Văn V tại thôn P, xã P, huyện P, tỉnh Bình Phước cất giấu với mục đích bán lại kiếm tiền lời nhưng chưa kịp bán thì bị cơ quan công an khám xét phát hiện thu giữ cùng tang vật.
Tại bản Kết luận giám định số: 213/KL-KTHS ngày 06/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Chất màu trắng - vàng (ký hiệu M) bám dính trong 01 ống thủy tinh được niêm phong gửi giám định là Ma túy; loại Methamphetamine; có khối lượng là: 0,1485 gam (Không phẩy một bốn tám năm gam).
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/08/2022 của Chính phủ. (bút lục số 44).
Tại bản Kết luận giám định số: 214/KL-KTHS ngày 07/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Mẫu ký hiệu là M1, M2, M3, M4 được niêm phong trong 02 thùng giấy gửi giám định đều là pháo nổ (pháo hoa nổ). Khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng nhiều màu sắc. Tổng khối lượng lần lượt là:
- M1=7,3kg (Bảy phẩy ba ki lô gam).
- M2=5,35kg (Năm phẩy ba lăm ki lô gam).
- M3=16,40kg (Mười sáu phẩy bốn ki lô gam).
- M4=2,95kg (Hai phẩy chín lăm ki lô gam).
- Tổng khối lượng là 32kg (Ba mươi hai ki lô gam).
Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật gồm:
- - 01(một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế được làm từ một ly thủy tinh gắn với một phần chai nhựa có nắp màu đỏ, trên nắp chai có hai lỗ tròn gắn một đoạn ống hút nhựa co dãn màu trắng-tím và một nỏ thủy tinh một đầu hình cầu hở bên trong có chất rắn màu trắng; 01(một) vỏ hộp giấy màu vàng, trên bề mặt có chữ “Ban Me Thuột Curcuma Honey";
- - 01(một) giấy chứng minh nhân dân số [...] có tên Bùi Ngọc T; 01(một) giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số DB0084390; 01(một) ví da màu đen; Số tiền 2.872.000 đồng (Hai triệu tám trăm bảy mươi hai nghìn đồng); 01(một) điện thoại di động hiệu SAMSUNG GALAXY Z Fold 5 màu đen, đã qua sử dụng; 01(một) điện thoại di động hiệu OPPO A78 màu đen, đã qua sử dụng; 01(một) xe ô tô hiệu HONDA CIVIC biển số 93A - 416.51;
- - 02 (hai) khối hình bầu dục, mỗi khối dài 17cm, chu vi thân (chỗ lớn nhất) là 37cm, trên thân mỗi khối có dán tem giấy màu trắng có in chữ nước ngoài và chữ số “012-14”; 04 (bốn) khối hình bầu dục, mỗi khối dài 17cm, chu vi thân (chỗ lớn nhất) là 37cm, trên thân mỗi khối có dán tem giấy màu trắng có in chữ nước ngoài và chữ số “K9905”; 03 (ba) khối hình bầu dục, mỗi khối dài 17cm, chu vi thân (chỗ lớn nhất) là 37cm, trên thân mỗi khối có dán tem giấy màu trắng có in chữ nước ngoài và chữ số “VJ252”; 03 (ba) khối hình bầu dục, mỗi khối dài 10cm, chu vi thân (chỗ lớn nhất) là 23cm, trên thân mỗi khối có dán tem giấy màu trắng có in chữ nước ngoài và chữ số “VJ317”; 01 (một) khối hình bầu dục, dài 10cm, chu vi thân (chỗ lớn nhất) là 23cm, trên thân mỗi khối có dán tem giấy màu trắng có in chữ nước ngoài và chữ số "VJ306"; 11 (mười một) khối hình hộp, mỗi khối có kích thước (16,5x16,5)cm, bên ngoài mỗi khối có dán tem nhiều màu sắc có in chữ nước ngoài và chữ số “KS4-4911L”, bên trong mỗi khối có 49 ống giấy hình trụ tròn; 01 (một) khối hình hộp, mỗi khối có kích thước (24x24x10)cm, bên ngoài mỗi khối có dán tem nhiều màu sắc có in chữ nước ngoài và chữ số “KS4-4911L”,bên trong có 100 ống giấy hình trụ tròn; 08 (tám) khối hình bầu dục, mỗi khối dài 10cm, chu vi thân (chỗ lớn nhất) là 23cm, trên thân mỗi khối có dán tem giấy màu trắng có in chữ nước ngoài và chữ số “VJ319”; 12 (mười hai) khối hình bầu dục, mỗi khối dài 10cm, chu vi thân (chỗ lớn nhất) là 23cm, trên thân mỗi khối có dán tem giấy màu trắng có in chữ nước ngoài và chữ số “VJ315”.
Ngày 15 tháng 05 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài ra quyết định trả lại tài sản số 01/QĐ-VKS gồm 01(một) giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số DB0084390 và 01(một) xe ô tô hiệu HONDA CIVIC biển số 93A - 416.51 cho chủ sở hữu là bà Nguyễn Kiều T2.
Tại bản Cáo trạng số: 89/CT-VKS ngày 23 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước đã truy tố bị cáo Bùi Ngọc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 và tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như Cáo trạng đã đề cập và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn H1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Buôn bán hàng cẩm”.
Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Bùi Ngọc T từ 12 đến 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Bùi Ngọc T từ 12 đến 15 tháng tù về tội “Buôn bán hàng cấm”.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định và đang bị tạm giam nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử Tịch thu tiêu hủy 01 Bì thư ký hiệu vụ số 213 ngày 02 tháng 02 năm 2024 đựng ma tuý còn lại sau giám định được Phòng KTHS C1 niêm phong, đóng dấu giáp lai; Tịch thu tiêu hủy 01 Vỏ hộp giấy màu vàng, trên bề mặt có chữ “Ban Me Thuột Curcuma Honey”; 01 Bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế được làm từ một ly thủy tinh gắn với một phần chai nhựa có nắp màu đỏ, trên nắp chai có hai lỗ tròn gắn một đoạn ống hút nhựa co dãn màu trắng-tím; 02 thùng pháo còn lại sau giám định.
Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 Điện thoại DĐ hiệu OPPO A78 màu đen, đã qua sử dụng là công cụ phạm tội.
Trả lại cho bị cáo T 01 Giấy chứng minh nhân dân số [...] có tên Bùi Ngọc T; 01 ĐTDĐ SAMSUNG GALAXY Zfold5 màu đen, 01 Ví da màu đen, Số tiền 2.872.000 đồng.
Tại phiên tòa, bị cáo Bù Ngọc T4 đã khai nhận toàn bộ diễn biến hành vi phạm tội, thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước truy tố là đúng hành vi phạm tội của bị cáo và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra: Điều tra viên, Viện kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều là hợp pháp.
- Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Bùi Ngọc T thừa nhận: Khoảng 17 giờ ngày 29 tháng 01 năm 2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Bùi Ngọc T điều khiển ô tô biển số 93A - 416.51 đi xuống khu phố P, phường T, thành phố Đ (bên hông trường THPT Đ2) gặp một người thanh niên (không xác định được nhân thân lai lịch) mua 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) ma túy đá mục đích sử dụng. Sau khi sử dụng, số ma túy đá còn lại T cất giấu trong hộc đựng nước phía trước xe ô tô, để sử dụng dần. Ngày 01 tháng 02 năm 2024, Công an tỉnh B kiểm tra hành chính phát hiện bắt quả tang Bùi Ngọc T có hành vi tàng trữ 0,1485 gam ma túy loại Methamphetamine tại ấp C, xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.
Trước đó vào ngày 25 tháng 01 năm 2024, Bùi Ngọc T có mua 32kg pháo nổ và pháo hoa nổ của một người đàn ông (không xác định được nhân thân lai lịch) với giá 12.650.000đ (Mười hai triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng) tại ngã ba thị trấn T, huyện B, tỉnh Bình Phước và mang về cất giấu tại thôn P, xã P, huyện P, tỉnh Bình Phước với mục đích bán lại kiếm tiền lời thì bị cơ quan Công an khám xét khẩn cấp phát hiện thu giữ.
Căn cứ vào hành vi của bị cáo thực hiện, khối lượng ma túy bị cáo cất giấu để sử dụng, số lượng pháo nổ mà bị cáo cất dấu để bán kiếm lời đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 và tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước đã truy tố.
Khi thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, buôn bán hàng cấm bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người và an ninh trật tự tại địa phương, là một trong những nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội khác, ảnh hưởng đến lối sống lành mạnh tại cộng đồng dân cư; xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước trong việc cất giữ, bảo quản và vận chuyển các chất ma túy. Vì vậy cần phải có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả từ hành vi phạm tội bị cáo mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự được Hội đồng xét xử xem xét, áp dụng khi quyết định hình phạt.
- Về quyết định hình phạt: Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, căn cứ vào tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
- Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định và đang bị tạm giam nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đối với người đàn ông tên T3 là người đã liên hệ mua ma túy giúp và người đàn ông bán ma túy cho Bùi Ngọc T vào ngày 29/01/2024. Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT không xác định được nhân thân, lai lịch nên không đủ căn cứ để xử lý.
Đối với đối tượng tên Đ và đối tượng bán pháo cho Bùi Ngọc T. Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT không xác định được nhân thân, lai lịch nên không đặt vấn đề xử lý.
Đối với ông Nguyễn Văn V là cha vợ của Bùi Ngọc T và chủ nhà tại thôn P, xã P, huyện P, tỉnh Bình Phước. Quá trình điều tra xác định ông V không biết T cất giấu 32kg pháo hoa và pháo nổ nên không đặt vấn đề xử lý.
Đối với bà Nguyễn Kiều T5 là vợ của Bùi Ngọc T trú tại thôn P, xã P, huyện P, tỉnh Bình Phước. Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT xác định bà T5 không biết T cất giấu 32kg pháo hoa và pháo nổ cũng như tàng trữ ma túy nên không đặt vấn đề xử lý.
- Về xử lý vật chứng: Cần Tịch thu tiêu hủy 01 Bì thư ký hiệu vụ số 213 ngày 02 tháng 02 năm 2024 đựng ma tuý còn lại sau giám định được Phòng KTHS C1 niêm phong, đóng dấu giáp lai; Tịch thu tiêu hủy 01 Vỏ hộp giấy màu vàng, trên bề mặt có chữ “Ban Me Thuột Curcuma Honey”; 01 Bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế được làm từ một ly thủy tinh gắn với một phần chai nhựa có nắp màu đỏ, trên nắp chai có hai lỗ tròn gắn một đoạn ống hút nhựa co dãn màu trắng-tím; 02 thùng pháo còn lại sau giám định.
Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 Điện thoại DĐ hiệu OPPO A78 màu đen, đã qua sử dụng là công cụ phạm tội.
Trả lại cho bị cáo T 01 Giấy chứng minh nhân dân số [...] có tên Bùi Ngọc T; 01 ĐTDĐ SAMSUNG GALAXY Zfold5 màu đen, 01 Ví da màu đen, Số tiền 2.872.000 đồng.
- Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước về tội danh, điều khoản áp dụng đối với bị cáo Bùi Ngọc T là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về án phí: Bị cáo Bùi Ngọc T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Buôn bán hàng cấm”.
- Về điều luật và mức hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Bùi Ngọc T 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Bùi Ngọc T 01 (một) năm tù về tội “Buôn bán hàng cấm”.
Áp dụng Điều 55 Bộ Luật hình sự, tổng hợp hình phạt 02 tội bị cáo Bùi Ngọc T phải chấp hành là 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 02 tháng 02 năm 2024.
Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng các Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy: 01 Bì thư ký hiệu vụ số 213 ngày 02/02/2024 đựng ma tuý còn lại sau giám định được Phòng KTHS C1 niêm phong, đóng dấu giáp lai; 01 Vỏ hộp giấy màu vàng, trên bề mặt có chữ “Ban Mê Thuột C Honey”; 01 Bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế được làm từ một ly thủy tinh gắn với một phần chai nhựa có nắp màu đỏ, trên nắp chai có hai lỗ tròn gắn một đoạn ống hút nhựa co dãn màu trắng-tím; 02 thùng giấy ký hiệu vụ số: 214 ngày 02/02/2024 đựng pháo nổ còn lại sau giám định được Phòng C1 niêm phong, đóng dấu.
Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 Điện thoại DĐ hiệu OPPO A78 màu đen, đã qua sử dụng.
Trả lại cho bị cáo T 01 Giấy chứng minh nhân dân số [...] có tên Bùi Ngọc T; 01 Ví da màu đen; 01 ĐTDĐ SAMSUNG GALAXY Zfold5 màu đen; Số tiền: 2.872.000 đồng (hai triệu tám trăm bảy hai nghìn đồng).
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 0002262, quyển số 0046, ký hiệu D47/2017 ngày 24/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài và Ủy nhiệm chi lập ngày 24/5/2024 giữa Công an thành phố Đ và bên nhận là Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài).
- Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo Bùi Ngọc T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là: 200.000 (hai trăm nghìn đồng) đồng.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Ngô Ngọc Linh |
Bản án số 93/2024/HS-ST ngày 02/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tàng trữ trái phép chất ma túy và buôn bán hàng cấm
- Số bản án: 93/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy và Buôn bán hàng cấm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
