Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2023/HS-ST

Ngày 02/11/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Chu Tuấn Vương

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Len và bà Nguyễn Thị Thêu

Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Tiến Thành - Thư ký TAND tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trình - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 69/2023/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2023/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 10 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Lê Xuân H, sinh năm 1991; giới tính: Nam. Nơi cư trú: Tổ dân phố M, thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình.

Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Lê Văn B và bà Đào Thị B1; có vợ là Vũ Diệu L và 02 con. Tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: Ngày 16/7/2021 phạm tội Gây rối trật tự công cộng bị Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử tuyên phạt 02 năm 06 tháng tù theo Bản án số 22 ngày 19/5/2022 của Toà án nhân dân tỉnh Thái Bình. Hiện bị cáo đang chấp hành án tại Trại tạm giam tỉnh Thái Bình, trích xuất có mặt tại phiên tòa.

2. Bùi Văn T, sinh năm 1993; giới tính: Nam. Nơi cư trú: Tổ dân phố số D, thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình. Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Bùi Văn D và bà Nguyễn Thị N; có vợ là Bùi Quỳnh A. Tiền án, tiền sự: không. Ngày 16/7/2021 phạm tội Gây rối trật tự công cộng bị Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử tuyên phạt 03 năm 06 tháng tù theo Bản án số 22 ngày 19/5/2022 của Toà án nhân dân tỉnh Thái Bình. Hiện T đang chấp hành án tại Trại giam T10 ở tỉnh Thanh Hóa. Trích xuất về Trại giam Công an tỉnh T ngày 11/8/2023, trích xuất có mặt tại phiên tòa.

3. Hoàng Văn H1, sinh năm 1995; giới tính: Nam. Đăng ký hộ khẩu thường trú: xóm A, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Số nhà B, khu G, thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình. Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Hoàng Văn Đ và bà Trần Thị T1; Tiền án: Bản án số 13/2019/HS-ST ngày 07/3/2019 của Toà án nhân dân tỉnh Thái Bình tuyên phạt 04 năm 06 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Chấp hành xong hình phạt tù tháng 4/2021. Tiền sự: không. Nhân thân: Ngày 16/7/2021 phạm tội Gây rối trật tự công cộng bị Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử tuyên phạt 3 năm 6 tháng tù theo Bản án số 22 ngày 19/5/2022 của Toà án nhân dân tỉnh Thái Bình. Hiện H1 đang chấp hành án tại Trại giam T10 ở tỉnh Thanh Hóa. Trích xuất về Trại giam Công an tỉnh T ngày 11/8/2023, trích xuất có mặt tại phiên tòa.

4. Hồ Xuân H2, sinh năm 1991; giới tính: Nam. Nơi cư trú: Tổ dân phố M, thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình. Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Hồ Xuân M và bà Nguyễn Thị N1; có vợ là Lê Thanh H3; Tiền án: Bản án số 57/2020/HS-ST ngày 18/12/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xử phạt 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội Tổ chức đánh bạc theo khoản 1 Điều 322 BLHS. Bị cáo phạm tội trong thời gian đang chấp hành án. Tiền sự: không. Nhân thân: Ngày 11/05/2012 bị Công an quận T, Hà Nội xử lý hành chính 1.500.000 đồng về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Đã nộp phạt ngày 31/5/2012. Ngày 16/7/2021 phạm tội Gây rối trật tự công cộng bị Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử tuyên phạt 03 năm tù theo Bản án số 22 ngày 19/5/2022 của Toà án nhân dân tỉnh Thái Bình. Tổng hợp với hình phạt 02 năm của bản án số 57 ngày 18/12/2020, Hồ Xuân H2 phải chấp hành mức án 05 năm tù. Hiện H2 đang chấp hành án tại Trại giam T10 ở tỉnh Thanh Hóa. Trích xuất về Trại giam Công an tỉnh T ngày 11/8/2023, trích xuất có mặt tại phiên tòa.

5. Tạ Hải L1, sinh năm 1994; giới tính: Nam. Nơi cư trú: Thôn Q, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Tạ Đình B2 (đã chết) và bà Nguyễn Thị L2; có vợ là Vũ Linh C và 02 con; Tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: Ngày 16/7/2021 phạm tội Gây rối trật tự công cộng bị Toà án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử tuyên phạt 03 năm tù theo Bản án số 22 ngày 19/5/2022 của Toà án nhân dân tỉnh Thái Bình. Hiện L1 đang chấp hành án tại Trại giam X ở thành phố Hải Phòng. Trích xuất về Trại giam Công an tỉnh T ngày 11/8/2023, trích xuất có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại:

  • - Anh Đỗ Tư D1, sinh năm 1990; nơi cư trú: Thôn V, xã H, huyện T, tỉnh Thái Bình. (vắng mặt)
  • - Anh Vũ Trung L3, sinh năm 1996; địa chỉ: Thôn K, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. (vắng mặt)
  • - Anh Đào Như T2, sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn K, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. (vắng mặt)
  • - Anh Ngô Tiến T3, sinh năm 1996; nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. (vắng mặt)

* Người làm chứng:

Anh Nguyễn Văn T4, sinh năm 1992; nơi cư trú: Thôn N, xã D, huyện T, tỉnh Thái Bình (vắng mặt)

2

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Xuất phát từ mâu thuẫn cá nhân giữa Bùi Văn T với Lê Xuân H4, sinh năm 1995, trú tại thôn V, xã T, huyện T về việc H4 chưa thanh toán tiền mua trả góp 01 điện thoại cho Bùi Văn T. Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 16/7/2021 tại khu vực ngã tư chợ L5 thuộc thôn L, xã T, huyện T, Bùi Văn T cùng Hoàng Văn H1, Tạ Hải L1, Nguyễn Khuông N2, Tạ Duy T5, Lê Đình P, Trần Văn T6 đã dùng tuýp sắt, gậy bóng chày, vỏ chai bia đuổi đánh nhau với Lê Xuân H4 gây mất trật tự, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự tại địa phương.

Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, nhóm của Bùi Văn T ngồi uống nước tại quán T11 ở tổ dân phố M, thị trấn D huyện T gồm T, L1, H1, H1 và H. T kể lại sự việc đánh nhau với Lê Xuân H4 hồi chiều cho Hồ Xuân H2 và Lê Xuân H nghe. Đồng thời lúc này, cả nhóm thấy trên mạng xã hội Facebook tài khoản có níc là T4 hướng thiện của Nguyễn Văn T4 đăng bài với nội dung “Mấy anh em giang hồ, người vẫy toàn mực sang chợ L4 đánh nhau sao đi đông mà không làm gì được nó thế. Lần sau đi ít thôi chứ đi đông lại nhiều xác đấy. Ahihi”, cả nhóm hiểu Thân có ý khiêu khích, giễu cợt nhóm Bùi Văn T nên cả nhóm T thống nhất đi tìm Nguyễn Văn T4 để đánh. Hoàng Văn H1 về quán K ở khu G thị trấn D huyện T (nơi H1 làm thuê) lấy 02 khẩu súng giấu ở phòng ngủ của mình rồi đưa cho T7 01 khẩu. T cầm súng dắt vào cạp quần và lấy xe ô tô CRV, biển kiểm soát 15A-582.16 ở quán K đến quán trà chanh đón Lê Xuân H, Tạ Hải L1, Hồ Xuân H2. Sau đó H điều khiển xe ô tô chở T, L1, Hồ Xuân H2 về nhà L1 lấy 03 dao phóng lợn; Hoàng Văn H1 đi xe ô tô Yaris cùng đi tìm đánh Nguyễn Văn T4. Khoảng 22 giờ cùng ngày tại của Văn phòng G của anh Nguyễn Văn T4 nằm trên trục đường liên xã thuộc địa phận thôn V, xã T, huyện T, nhóm của Bùi Văn T dùng dao phóng lợn đuổi chém anh T4; Hồ Xuân H2 đã chém trúng 01 nhát vào lưng anh T4 (tỷ lệ thương tích 01%), anh T4 bỏ chạy vào quán nhưng lúc này cổng quán khoá nên anh T4 không chạy vào trong quán được, nhóm T hò hét đuổi theo anh T4 trên trục đường liên xã trước cửa quán cầm đồ. Khi nghe tiếng anh T4 kêu và tiếng hò hét trước cửa quán cầm đồ, một số người là bạn của anh T4 đang ngồi uống nước tại sân khu vực gian phòng ngủ phía sau của quán trong đó có anh Đỗ Tư D1, Ngô Tiến T3, Lê Xuân H4 chạy ra phía cổng nhưng cổng sắt phía bên trong đã khoá không ra ngoài được. Thấy người ở bên trong quán cầm đồ chạy ra, Hoàng Văn H1 dùng súng mang theo bắn 01 phát vào cửa kính ở phòng khách của quán cầm đồ (bên trong không có người) làm thủng vỡ 01 lỗ ở cửa kính và bắn tiếp 3 phát nữa về phía bên trên cổng sắt quán cầm đồ của anh T4 làm những người bạn của anh Thân s lui hết vào bên trong phía sau quán. Bùi Văn T cũng dùng súng mang theo hướng lên mái tôn phía trên quán cầm đồ giáp cạnh đường bắn liên tiếp 3 phát. Sau đó nhóm của T lên xe ô tô đi về thị trấn D. Anh T4 được mọi người đưa ra Bệnh viện Đ2, huyện T khâu vết thương ở lưng, trong quá trình này T4 tiếp tục viết lên Facebook với nội dung “Thằng dũng chiến ở D ơi, bố va trực tiếp với mày luôn. Cắn

bố hả” và điện thoại cho Trần Văn D2 hẹn đánh nhau nhưng chưa kịp đi thì bị Cơ quan Công an đến triệu tập T4 và H4 để làm việc.

Còn nhóm của Bùi Văn T, sau khi đánh nhau ở quán C1 thì H, T, L1, Hồ Xuân H2 đi 01 xe ô tô do H điều khiển; Hoàng Văn H1 điều khiển 01 xe ô tô đi về thị trấn D (H đi theo hướng ra cầu V, Hoàng Văn H1 đi theo hướng khác). Trên đường về thị trấn D, Hồ Xuân H2 vẫn thấy T4 đăng bài trên Facebook với nội dung thách thức và sỉ nhục nhóm của T như trên (do T, H là đàn em của Trần Văn D2) nên cả nhóm T, H, L1, Hồ Xuân H2 thống nhất quay lại quán C1 để tiếp tục tìm đánh T4 và nhóm của T4. Do sợ đi xe cũ (xe CRV) biển kiểm soát 15A-582.16 bị phát hiện nên H đã gọi điện cho anh Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1985, trú tại tổ dân phố số H, thị trấn D bảo đổi xe đi có chút việc. Khoảng 23 giờ cùng ngày H lái xe ô tô Ford Everest, biển kiểm soát 17A-229.88 chở T, L1, Hồ Xuân H2 quay lại quán C1. Khi quay lại quán cầm đồ T vẫn theo khẩu súng; H, L1 và Hồ Xuân H2 đều biết T mang theo súng. H điều khiển xe đến quán C1 thấy có đông người và thấy có cả công an ở đó nên không dừng lại mà điều khiển xe ô tô tiếp tục đi thẳng về hướng chợ C2. Sau khi T4 bị đánh, Đỗ Tư D1 rủ Ngô Tiến T3, Vũ Trung L3 đi ăn đêm. D1 điều khiển xe ô tô màu trắng, biển kiểm soát 30F-951.40 (trước đó đậu ở cửa quán cầm đồ của anh T4) chở anh T3 và L3, trên đường đi D1 gọi điện và qua xã T đón anh Đào Như Thế đi cùng. Nhóm của H khi đi đến khu vực chợ L6, huyện T thì H nhìn thấy xe ô tô màu trắng BKS 30F-951.40 do anh Đỗ Tư D1 điều khiển đi ngược chiều. H nói “xe này lúc đánh nhau đỗ trước cửa quán C1, xem là ai để tiếp tục đánh cho trận”. T, L1 và Hồ Xuân H2 ngồi trong xe nghe thấy đều đồng ý. H quay xe lại và đuổi theo xe ô tô của anh D1, do lúc này chỉ có một mình xe ô tô của H, khó dừng xe ô tô của anh D1 được nên T điện thoại cho Hoàng Văn H1 lúc này đang ở thị trấn D nói nhóm T đang đi theo xe nhóm của T4, đang ở xã T và bảo Hoàng Văn Hải đi xe ô tô đến chặn đầu xe ô tô của D1 để tiếp tục đánh những người trên xe và được Hoàng Văn H1 đồng ý. Lúc này xe ô tô của Hoàng Văn H1 sắp hết xăng nên Hoàng Văn H1 điện thoại cho Vũ Văn H5, sinh năm 1985, trú tại xã Q, huyện T, thành phố Hải Phòng đang ở thị trấn D để đổi xe ô tô (khi đổi xe, Hoàng Văn H1 chỉ nói với anh H5 là đổi xe đi có việc do xe của H1 sắp hết xăng). Sau đó Hoàng Văn H1 một mình điều khiển xe ô tô bán tải BKS 29X-2975 từ thị trấn D đến xã T, khi đi Hoàng Văn H1 mang theo 01 khẩu súng đã sử dụng bắn trước đó tại quán C1. Hoàng Văn H1 điều khiển xe đi đến khu vực Ủy ban nhân dân xã T thì nhận được điện thoại của T hỏi đi đến đâu và bảo H1 quay xe để chặn đầu xe ô tô của Đỗ Tư D1 đang đi cùng chiều phía sau. Hoàng Văn H1 quay xe thấy phía ngược chiều có 2 xe ô tô đang đi đến, biết là xe của nhóm T đang đi theo xe của Đỗ Tư D1 nên Hoàng Văn H1 đã chủ động quay ngang xe về phía bên trái đường để chặn xe ô tô của anh D1 nhưng anh D1 điều khiển xe ô tô lách tránh được và tăng ga thì H tiếp tục điều khiển xe ô tô đuổi theo xe ô tô của anh D1. Khi đuổi đến đoạn đường khu vực nghĩa trang L7 xã T (thuộc thôn L, xã T) thì đuổi kịp, H cho xe vượt xe của D1, trong lúc vượt T ngồi ở ghế phụ phía trước hạ cửa kính, tay phải cầm súng thò ra ngoài nhằm bánh phía trước bên trái xe của anh D1 bắn 02 phát, mục đích để xe ô tô của anh D1 dừng lại trong đó

4

có 01 phát trúng làm thủng một lỗ nhựa có hình dạng gần tròn đường kính 0,6cm tại vị trí đầu xe, phía cạnh ngoài bên trái ba đờ sốc, ngay phía trước bánh xe trước, cách mặt đất 48cm. Anh D1 vẫn không dừng xe mà tiếp tục điều khiển xe chạy về phía nhà máy N3, H tiếp tục điều khiển xe đuổi theo xe anh D1, đến đoạn đường gần chợ M1 thuộc địa phận xã M xe ô tô do anh D1 điều khiển phải giảm tốc độ để vào cua, xe ô tô do H điều khiển đâm vào phần đuôi xe ô tô của anh D1 làm bong ốp kim loại cốp phía sau. Những người trên xe ô tô của anh D1 không ai bị thương tích gì. Sợ bị đánh nên anh D1 không dừng xe lại mà tiếp tục chạy về hướng U để trình báo lực lượng Công an; xe ô tô do H điều khiển không đuổi theo nữa mà đi về thị trấn D.

Quá trình điều tra, cơ quan điều tra không thu giữ được 2 khẩu súng các bị cáo sử dụng để phạm tội nên không xác định được 2 khẩu súng đó thuộc loại gì. Quản lý 01 xe ô tô KIA-SOLUTO, biển kiểm soát 30F-95.140 do anh Đỗ Tư D1 giao nộp.

Bản kết luận định giá tài sản số 46/KL-HDĐGTS ngày 13/10/2021 của Hội đồng định giá tài sản huyện T kết luận: Tổng chi phí sửa chữa cho chiếc xe ô tô KIA-SOLUTO, biển kiểm soát 30F-95.140 là 1.800.000 đồng.

Cáo trạng số 67/CT-VKSTB ngày 03 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình đã truy tố các bị cáo Lê Xuân H, Bùi Văn T, Hoàng Văn H1, Hồ Xuân H2, Tạ Hải L1 về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 6 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố, không có ý kiến, khiếu nại gì. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Lê Xuân H, Bùi Văn T, Hoàng Văn H1, Hồ Xuân H2, Tạ Hải L1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

  • - Áp dụng khoản 6 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Xuân H mức án từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù. Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự, tổng hợp với hình phạt 02 năm 06 tháng tù của Bản án số 22/2022/HS-ST ngày 19/5/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án. Thời hạn tù tính từ ngày 06/02/2023 (ngày bị cáo đi thi hành Bản án số 22/2022/HS-ST ngày 19/5/2022), được trừ đi thời hạn bị tạm giam từ ngày 29/7/2021 đến ngày 03/12/2021 trong vụ án đã xét xử theo Bản án số 22/2022/HS-ST ngày 19/5/2022.
  • - Áp dụng khoản 6 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Văn T mức án từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù. Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự, tổng hợp với hình phạt 03 năm 06 tháng tù của Bản án số 22/2022/HS-ST ngày 19/5/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình, buộc bị cáo Bùi Văn T phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án. Thời hạn tù tính từ ngày 28/7/2021.
  • - Áp dụng khoản 6 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Văn H1 mức án từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù. Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự, tổng hợp với hình phạt 03 năm 06 tháng tù của Bản án số 22/2022/HS-ST ngày 19/5/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình, buộc bị cáo Hoàng Văn H1 phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án. Thời hạn tù tính từ ngày 28/7/2021.
  • - Áp dụng khoản 6 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hồ Xuân H2 mức án từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù. Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự, tổng hợp với hình phạt 05 năm tù của Bản án số 57/2020/HS-ST ngày 18/12/2020 và Bản án số 22/2022/HS-ST ngày 19/5/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình, buộc bị cáo Hồ Xuân H2 phải chấp hành hình phạt chung cho cả ba bản án. Thời hạn tù tính từ ngày 26/11/2021, được trừ đi thời gian đã tạm giam từ ngày 07/6/2020 đến 18/12/2020 của vụ án được xét xử theo Bản án số 57/2020/HS-ST ngày 18/12/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
  • - Áp dụng khoản 6 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Tạ Hải L1 mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù. Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự, tổng hợp với hình phạt 03 năm tù của Bản án số 22/2022/HS-ST ngày 19/5/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình, buộc bị cáo Tạ Hải L1 phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án. Thời hạn tù tính từ ngày 26/11/2021.

Không đặt ra giải quyết về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng. Ngoài ra còn đề nghị về án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát

Khi nói lời sau cùng, các bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo mức án thấp nhất để các bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đối với các bị cáo và tiến hành các thủ tục tố tụng khác trong vụ án, các Cơ quan và người tiến hành tố tụng các cấp đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục; không ai có ý kiến thắc mắc, khiếu nại gì. Tại phiên tòa, bị hại, người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên, quá trình điều tra, họ đã có lời khai trong hồ sơ vụ án. Căn cứ các Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung:

[2.1] Hành vi phạm tội của các bị cáo:

Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án như: Lời khai của bị hại, người làm chứng, Biên bản xác định hiện trường và sơ đồ hiện trường, Biên bản giao nhận tài liệu đồ vật ngày 17/7/2021, Biên bản khám phương tiện (xe ô tô) ngày 20/7/2021, Bản kết luận định giá tài sản số 46/KL-HĐĐGTS ngày 13/10/2021 của Hội đồng định giá tài sản huyện T và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do mâu thuẫn về lời nói thách thức giữa Nguyễn Văn T4 với nhóm của Bùi Văn T, Lê Xuân H, Hồ Xuân H2, Tạ Hải L1, khoảng 22 giờ ngày 16/7/2021 tại cửa văn phòng G của anh Nguyễn Văn T4 nằm trên trục đường liên xã thuộc địa phận thôn V, xã T, huyện T, nhóm của Bùi Văn T đã có hành vi dùng dao phóng lợn đuổi chém anh T4 gây thương tích 1% và dùng súng bắn, hò hét trước cửa quán cầm đồ gây rối làm mất trật tự trị an. Sau khi nhóm T về Thị trấn D, T4 tiếp tục đăng lên Facebook thách thức và điện thoại cho Trần Văn D2 hẹn đánh nhau. Khoảng 23 giờ ngày 16/7/2021, sau khi biết Thân tiếp tục thách thức, nhóm của Bùi Văn T, Lê Xuân H, Hồ Xuân H2, Tạ Hải L1 đã thống nhất quay lại quán cầm đồ của anh T4 ở xã T để đánh anh T4 và nhóm bạn của anh T4. H điều khiển xe ô tô Ford Everest, biển kiểm soát 17A-229.88 chở T, L1, Hồ Xuân H2, khi đi Bùi Văn T có mang theo súng. Bùi Văn T điện thoại cho Hoàng Văn H1 điều khiển xe bán tải BKS 29X-2975, khi đi Hoàng Văn H1 mang theo súng. Khi phát hiện xe ô tô KIA SOLUTO màu trắng BKS 30F-951.40 do anh Đỗ Tư D1 điều khiển chở Danh T8, L3, T2 đi ngược chiều H điều khiển xe đuổi theo vì cả nhóm cho rằng đây là xe chở những người trong nhóm của T4. Hoàng Văn H1 có hành vi quay ngang xe chặn đầu xe ô tô của anh D1 nhưng anh D1 điều khiển xe ô tô lách tránh được và tăng ga bỏ chạy, thì H tiếp tục điều khiển xe ô tô đuổi theo xe ô tô của anh D1. T cầm súng thò ra ngoài bắn vào phía trước bên trái xe của anh D1, mục đích để xe ô tô của anh dừng lại. Anh D1 vẫn tiếp tục điều khiển xe chạy, khi đến đoạn đường gần chợ M1 thuộc địa phận xã M, xe ô tô do anh D1 điều khiển giảm tốc độ để vào cua thì xe ô tô do H điều khiển đâm vào phần đuôi xe ô tô của anh D1, anh D1 bỏ chạy và trình báo Công an. Như vậy Lê Xuân H, Bùi Văn T, Hoàng Văn H1, Hồ Xuân H2, Tạ Hải L1 đã có hành vi cùng tham gia nhóm, chuẩn bị vũ khí (súng), dùng xe ô tô chặn, đuổi, dùng súng bắn vào xe ô tô KIA SOLUTO BKS 30F-951.40 do anh Đỗ Tư D1 điều khiển, mục đích để đánh những người trong chiếc xe ô tô này.

Hành vi nêu trên của các bị cáo Lê Xuân H, Bùi Văn T, Hoàng Văn H1, Hồ Xuân H2 và Tạ Hải L1 phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 6 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình đã truy tố là có căn cứ, đúng người và đúng pháp luật. Điều 134 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

6. Người nào chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm”

[2.2] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự công cộng, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương cũng như gây tâm lý hoang mang trong nhân dân. Các bị cáo Lê Xuân H, Bùi Văn T, Hoàng Văn H1, Hồ Xuân H2 và Tạ Hải L1 đều đã đủ 18 tuổi, nhận thức được mức độ nguy hiểm mà hành vi của mình gây ra nhưng vẫn cố ý thực hiện, thể hiện sự không tôn trọng pháp luật. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo mới đủ cải tạo, giáo dục các bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng chống, phòng ngừa tội phạm nói chung.

[2.3] Đánh giá tính chất, mức độ vai trò của các bị cáo thì thấy: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, Lê Xuân H là người khởi xướng việc chặn đánh những người trong xe ô tô của anh D1, trực tiếp lái xe ô tô đuổi theo xe anh D1 và đâm vào đuôi xe của anh D1 nên H có vai trò thứ nhất; Bùi Văn T là người mang theo súng và trực tiếp dùng súng bắn vào xe ô tô của anh D1, mục đích để anh D1 sợ phải dừng xe lại, gọi điện cho Hoàng Văn H1 bảo H1 chặn xe ô tô của anh D1 nên có vai trò ngang với Lê Xuân H; Hoàng Văn H1 là người trực tiếp lái xe ô tô bán tải chặn xe ô tô của anh D1 nên có vai trò thứ hai trong vụ án; Hồ Xuân H2 và Tạ Hải L1 là người tham gia cùng H, T đuổi chặn xe của anh D1, giúp sức về mặt tinh thần cho các bị cáo khác nên giữ vai trò thứ ba trong vụ án.

[2.4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo: Quá trình điều tra, các bị cáo đều thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Hồ Xuân H2, Hoàng Văn H1 đều có 01 tiền án về tội do lỗi cố ý, chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, về nhân thân, bị cáo Hồ Xuân H2 bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

[2.5] Về trách nhiệm dân sự: Anh Đỗ Tư D1 không yêu cầu bồi thường thiệt hại về những vết móp, thủng trên xe ô tô 30F -951.40 và không yêu cầu bồi thường gì khác nên không đặt ra giải quyết.

[2.6] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan điều tra quản lý 01 xe ô tô màu trắng, biển kiểm soát 30A - 951.40 do anh Đỗ Tư D1 giao nộp. Tài liệu điều tra xác định chiếc xe ô tô trên là của anh Vũ Thanh T9, sinh năm 1991, ở thôn V, xã T, huyện T. Tối 16/7/2021 anh Đỗ Tư D1 có mượn của anh T9 để sáng hôm sau đi Hà Nội có việc. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh đã trả lại cho anh Đỗ Tư D1 là phù hợp.

[2.7] Đối với hành vi gây rối trật tự công cộng và các hành vi, nội dung liên quan đến vụ việc xảy ra tại ngã tư chợ L6 T và tại cửa quán C1 ở thôn V xã T vào chiều và tối ngày 16/7/2021 của Bùi Văn T, Hoàng Văn H1, Tạ Hải L1, Hồ Xuân H2, Lê Xuân H và các đối tượng liên quan đã được giải quyết tại Bản án số 22/2022/HS-ST ngày 19/5/2022 của Toà án nhân dân tỉnh Thái Bình.

[3] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

Tuyên bố các bị cáo Lê Xuân H, Bùi Văn T, Hoàng Văn H1, Hồ Xuân H2 và Tạ Hải L1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

2. Về hình phạt:

  • - Áp dụng khoản 6 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Xuân H mức án 10 (mười) tháng tù. Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự, tổng hợp với hình phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù của Bản án số 22/2022/HS-ST ngày 19/5/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình, buộc bị cáo Lê Xuân H phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 03 (ba) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/02/2023 (ngày bị cáo đi thi hành Bản án số 22/2022/HS-ST ngày 19/5/2022), được trừ đi thời hạn bị tạm giam từ ngày 29/7/2021 đến ngày 03/12/2021 trong vụ án đã xét xử theo Bản án số 22/2022/HS-ST ngày 19/5/2022.
  • - Áp dụng khoản 6 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Văn T mức án 10 (mười) tháng tù. Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự, tổng hợp với hình phạt 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù của Bản án số 22/2022/HS-ST ngày 19/5/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình, buộc bị cáo Bùi Văn T phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 04 (bốn) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/7/2021.
  • - Áp dụng khoản 6 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Văn H1 mức án 10 (mười) tháng tù. Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự, tổng hợp với hình phạt 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù của Bản án số 22/2022/HS-ST ngày 19/5/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình, buộc bị cáo Hoàng Văn H1 phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 04 (bốn) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/7/2021.
  • - Áp dụng khoản 6 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hồ Xuân H2 mức án 10 (mười) tháng tù. Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự, tổng hợp với hình phạt 05 (năm) năm tù của Bản án số 57/2020/HS-ST ngày 18/12/2020 và Bản án số 22/2022/HS-ST ngày 19/5/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình, buộc bị cáo Hồ Xuân H2 phải chấp hành hình phạt chung cho cả ba bản án là 05 (năm) năm 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/11/2021, được trừ đi thời gian đã tạm giam từ ngày 07/6/2020 đến 18/12/2020 của vụ án đã được xét xử theo Bản án số 57/2020/HS-ST ngày 18/12/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
  • - Áp dụng khoản 6 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Tạ Hải L1 mức án 07 (bảy) tháng tù. Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự, tổng hợp với hình phạt 03 (ba) năm tù của Bản án số 22/2022/HS-ST ngày 19/5/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình, buộc bị cáo Tạ Hải L1 phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 03 (ba) năm 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/11/2021.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Các bị cáo Lê Xuân H, Bùi Văn T, Hoàng Văn H1, Hồ Xuân H2 và Tạ Hải L1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 02/11/2023. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao tại Hà Nội
  • - VKSND Cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Công an tỉnh Thái Bình;
  • - Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình;
  • - Các bị cáo, bị hại;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Thái Bình;
  • - Cơ quan THAHS CA tỉnh Thái Bình;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Thái Bình;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Chu Tuấn Vương

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 79/2023/HS-ST ngày 02/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 79/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Xuân H và đp - CYGTT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger