|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 79/2025/HSST Ngày: 21 – 03 – 2025. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Thanh Mười
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1/ Ông: Nguyễn Văn Hoàng
- 2/ Ông: Lê Ngọc Lâm
Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Bá Thứ – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình An – Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 3 năm 2025 tại Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 72/2025/TLST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2025, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Cao Minh H; tên gọi khác: không; giới tính: nam; sinh năm: 1996 tại tỉnh Đồng Nai; thường trú: E tổ G, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nơi cư trú: không có chỗ ở nhất định; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh, tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông Cao Mạnh N và con bà Nguyễn Thị T; có vợ là Nguyễn Thị Thùy T1, có 02 người con: lớn sinh năm 2018, nhỏ sinh năm 2020. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 21/12/2016, bị Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai xử phạt 08 tháng tù về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 677/2016/HSST. Bị cáo chấp hành xong hình phạt vào ngày 22/05/2017, bị cáo đã chấp hành xong án phí. (Đã xoá án tích). Tạm giam từ ngày 13/11/2024 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
1/ Ông Huỳnh Minh M (vắng mặt)
Địa chỉ: 1 khu phố C, phường T, Thành phố B, tỉnh Đồng Nai
2/ Ông Trần Tuấn A (có mặt)
Địa chỉ: Tổ A - A đường S, ấp C, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Ông Lương Cao T2 (có mặt)
Địa chỉ: 1 khu phố B, phường B, Thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
2/ Ông Cao Mạnh N (có mặt)
Địa chỉ: E tổ G, khu phố A, phường T, Thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Cao Minh H là đối tượng không có nghề nghiệp ổn định, hay tìm tài sản sơ hở của người dân để trộm cắp. Từ ngày 31/10/2024 đến ngày 06/11/2024, H đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Vào khoảng 23 giờ 00 phút ngày 31/10/2024, Cao Minh H chơi game tại tiệm net “Thanos” địa chỉ khu phố H, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai để chơi game. Đến khoảng 06 giờ 00 phút ngày 01/11/2024, H ra về thì phát hiện ông Huỳnh Minh M đang ngủ ở gần đó, trên đầu nằm có để 01 balo nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của ông M. H lén lút mở ba lô và lấy trộm 01 máy tính bảng hiệu Samsung Tab 9 Wifi 246Gb rồi tẩu thoát. Khoảng 20 giờ 09 phút cùng ngày, Hoàng liên H1 ông Lương Cao T2 (là bạn của H) để bán lại máy tính bảng trộm được với giá 8.100.000 đồng, sau đó H đã tiêu xài hết số tiền và trốn đến Thành phố Hồ Chí Minh.
Vụ thứ hai: Khoảng 05 giờ 30 phút ngày 07/11/2024, Cao Minh H đến tiệm W tại nhà số A đường V, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh để chơi game thì thấy ông Trần Tuấn A ngồi ngủ tại bàn máy tính số 415, bên cạnh có để 01 ba lô màu đen. Thấy xung quanh không có ai, H lén lút lấy trộm ba lô của ông Tuấn A. Sau khi lục soát ba lô thì phát hiện có 01 chìa khóa xe (loại smart key) và 01 Giấy đăng ký xe Honda Airblade biển số 75K1–567.45 mang tên Trần Tuấn A. H đi xuống tầng trệt dùng chìa khóa smart key để tìm xe Honda Airblade biển số 75K1–567.45 rồi đề máy nổ và chạy ra cửa. Lúc này,
ông Lê Văn Đ là bảo vệ hỏi thẻ giữ xe thì H nói dối là lúc vào không thấy bảo vệ nên không lấy thẻ, sau đó xuất trình 01 giấy đăng ký lái xe mang tên Trần Tuấn A ra cho ông Đ kiểm tra, ông Đ nhận thấy có giấy đăng ký xe trùng với biển số xe nên ông Đ cho H đi. Sau khi rời khỏi tiệm game, H đến 01 quán nước trên đường P và sử dụng điện thoại Samsung của mình tạo 01 tài khoản ảo trên mạng Facebook đăng tin bán 01 xe Air Blade đời 2021 có giấy đăng ký xe với giá 22.000.000 đồng. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, có tài khoản nhắn tin Messenger Facebook cho H hẹn gặp lúc 11 giờ 00 phút tại Siêu thị B, thành phố T, tỉnh Bình Dương để xem xe và giao dịch. Khi H đến thì có 02 người thanh niên không rõ lai lịch chạy đến gặp H. Sau khi xem xe thì người đó đồng ý mua với giá 20.000.000 đồng. Sau khi giao dịch, H đón xe ôm đến thành phố B chơi game và tiêu xài hết số tiền bán xe. Đến khoảng 17 giờ 00 phút ngày 12/11/2024, khi H đang chơi game ở địa chỉ tổ A, khu phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thì bị Công an quận B mời về làm việc.
Tại Cơ quan điều tra, Cao Minh H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Kết luận định giá tài sản số: 335 ngày 14/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân quận B kết luận: 01 xe gắn máy hai bánh hiệu Honda AirBlade biển số 75K1-567.45 trị giá: 20.000.000 đồng
Kết luận định giá tài sản số: 402 ngày 29/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai kết luận: 01 máy tính bảng S S9 loại 256GB trị giá: 10.152.000 đồng.
Vật chứng thu giữ:
- - 01 gói niêm phong 01 USB chứa dữ liệu Camera ghi hình Cao Minh H trộm cắp 01 xe Honda Air Blade biển số 75K1-567.45, có chữ ký niêm phong bên ngoài của bị hại Trần Tuấn A.
- - 01 điện thoại Iphone 11 Pro Max màu vàng; 01 nón kết màu đen; 01 áo thun màu xanh; 01 quần tây; 01 áo khoác màu đen; 01 đôi dép nhựa màu đen; là trang phục Hoàng mặc trên người khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản;
- - 01 ba lô màu đen; 01 bóp da màu đen; 01 CCCD mang tên Trần Tuấn A; 01 CCCD mang tên Trần C; 01 CCCD mang tên Nguyễn Thị D; 01 Giấy phép lái xe mang tên Trần Tuấn A; 01 thẻ ngân hàng mang tên Trần Tuấn A.
- - 01 xe mô tô hiệu Honda, biển số 60B1-330.88, số khung: C100M-8098842; số máy: C100ME-8098842 là phương tiện H sử dụng khi trộm cắp máy tính bảng. Qua xác minh do ông Cao Mạnh N làm chủ sở hữu. Ngày 31/10/2024, ông N để xe ở nhà thị bị con trai Cao Minh H tự ý lấy xe sử dụng. Cơ quan CSĐT C1 đã xử lý vật chứng trả lại xe cho ông N là chủ sở hữu.
- - 01 máy tính bảng hiệu Samsung Tab 9 Wifi 256Gb do ông Lương Cao T2 thu mua của Cao Minh H giao nộp, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã xử lý vật chứng trả lại máy tính bảng cho ông Huỳnh Minh M.
Phần dân sự:
- - Người bị hại ông Trần Tuấn A đề nghị Cao Minh H bồi thường số tiền 20.000.000 đồng theo kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân quận B;
- - Người bị hại ông Huỳnh Minh M không yêu cầu bồi thường do đã thu hồi được tài sản.
Bản cáo trạng số 107/CT-VKSBTh ngày 26 tháng 2 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Cao Minh H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và phù hợp với vật chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở khẳng định: bị cáo Cao Minh H đã có hành vi trộm cắp tài sản.
Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh sau khi phân tích nội dung vụ án, những tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, các tình tiết định tội, định khung hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Cao Minh H từ 02 (hai) năm tù đến 03 (ba) năm tù.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ lời khai nhận của bị cáo, lời khai của người bị hại và các chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã xác định như sau:
Vào khoảng 6 giờ 00 phút ngày 01/11/2024, tại quán N1” địa chỉ khu phố H, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Cao Minh H đã lén lút lấy trộm 01 máy tính bảng hiệu Samsung Tab 9 Wifi 246Gb trị giá: 10.152.000 đồng của ông Huỳnh Minh M rồi mang đi bán cho ông Lương Cao T2 với giá 8.100.000 đồng;
Khoảng 5 giờ 30 phút ngày 07/11/2024 tại quán N2 tại địa chỉ số A đường V, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, Cao Minh H đã lén lút lấy trộm 01 balo của ông Trần Tuấn A, Hoàng lục trong ba lô của anh Tuấn A và lấy được 01 chìa khóa xe (loại smart key) và 01 giấy đăng ký xe Honda Airblade biển số 75K1–567.45 mang tên Trần Tuấn A trị giá 20.000.000 đồng rồi xuống tầng hầm lấy xe bỏ đi. Sau khi lấy được xe, H mang đi bán cho 02 người không rõ lai lịch với giá 20.000.000 đồng.
Do đó, hành vi phạm tội trên đây của bị cáo Cao Minh H đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[3] Về động cơ, mục đích phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
Xét thấy, bị cáo Cao Minh H là công dân có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, lẽ ra bị cáo phải chăm chỉ lao động để kiếm tiền một cách chính đáng nhưng bị cáo lại nhiều lần lợi dụng sự sơ hở của chủ tài sản, lén lút chiếm đoạt tài sản rồi bỏ trốn, trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, tổng giá trị tài sản bị trộm cắp là 28.100.000 (hai mươi tám triệu một trăm) nghìn đồng.
Hành vi phạm tội của bị cáo là hết sức nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Do đó cần phải xử phạt bị cáo bằng một mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm để răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51, Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 nhằm thể hiện tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Về tình tiết tăng nặng: bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng là phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g, khoản 1, Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Người bị hại ông Trần Tuấn A đề nghị Cao Minh H bồi thường số tiền 20.000.000 đồng theo kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân quận B;
Bị cáo H tự nguyện đồng ý bồi thường số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng cho ông Trần Tuấn A, nên Hội đồng xét xử chấp nhận sự tự nguyện bồi thường của bị cáo.
Người bị hại ông Huỳnh Minh M đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử ghi nhận và miễn xét.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lương Cao T2 tự nguyện nộp lại tài sản và yêu cầu bị cáo Cao Minh H bồi thường 8.100.000 đồng, bị cáo H đồng ý bồi thường cho ông Lương Cao T2 nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[6] Về thu lợi bất chính: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo H đã khai nhận: sau khi thực hiện xong hành vi phạm tội, bị cáo đã thu lợi bất chính được 28.100.000 đồng. Đây là số tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội mà có nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, khoản 1, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 buộc bị cáo H nộp lại 28.100.000 đồng để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
[7] Về xử lý vật chứng:
- 01 gói niêm phong 01 USB chứa dữ liệu Camera ghi hình Cao Minh H trộm cắp 01 xe Honda Air Blade biển số 75K1-567.45, có chữ ký niêm phong bên ngoài của bị hại Trần Tuấn A. Hội đồng xét xử xét thấy đây là vật chứng lưu giữ chứng cứ liên quan đến việc phạm tội của bị cáo nên cần lưu vào hồ sơ để lưu trữ.
- 01 điện thoại Iphone 11 Pro Max màu vàng là tài sản bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- 01 nón kết màu đen; 01 áo thun màu xanh; 01 quần tây; 01 áo khoác màu đen; 01 đôi dép nhựa màu đen; là trang phục Hoàng mặc trên người khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản; 01 ba lô màu đen; 01 bóp da màu đen; không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.
- Trả lại cho ông Trần Tuấn A: 01 CCCD mang tên Trần Tuấn A; 01 Giấy phép lái xe mang tên Trần Tuấn A; 01 thẻ ngân hàng mang tên Trần Tuấn A; 01 CCCD mang tên Trần C; 01 CCCD mang tên Nguyễn Thị D.
Các vật chứng còn lại Cơ quan điều tra đã xử lý xong nên Hội đồng xét xử ghi nhận và miễn xét.
[8] Đối với ông Lương Cao T2, do ông T2 không biết tài sản do Cao Minh H phạm tội mà có, ông T2 cũng tự nguyện nộp lại tài sản và không có yêu cầu gì khác. Do đó việc không xử lý đối với T2 là có cơ sở nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Đối với 02 người thanh niên không rõ lai lịch mua xe Air Blade biển số 75K1–567.45 của H, hiện chưa xác minh được thông tin, đề nghị Cơ quan điều tra tiến hành truy xét, xác minh khi nào làm rõ sẽ tiến hành xử lý sau.
[9] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Cao Minh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
1.Căn cứ vào khoản 1, Điều 173; điểm s, khoản 1, Điều 51; điểm g, khoản 1, Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt: bị cáo Cao Minh H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 13/11/2024
2. Căn cứ vào Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, tuyên:
- - Lưu vào hồ sơ 01 gói niêm phong 01 USB chứa dữ liệu Camera ghi hình Cao Minh H trộm cắp 01 xe Honda Air Blade biển số 75K1-567.45, có chữ ký niêm phong bên ngoài của bị hại Trần Tuấn A.
- - Tịch thu tiêu huỷ 01 nón kết màu đen; 01 áo thun màu xanh; 01 quần tây; 01 áo khoác màu đen; 01 đôi dép nhựa màu đen; 01 ba lô màu đen; 01 bóp da màu đen.
- - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại Iphone 11 Pro Max màu vàng, không lên nguồn, không kiểm tra tình trạng hoạt động bên trong.
- - Trả lại cho ông Trần Tuấn A: 01 CCCD mang tên Trần Tuấn A; 01 Giấy phép lái xe mang tên Trần Tuấn A; 01 thẻ ngân hàng mang tên Trần Tuấn A; 01 CCCD mang tên Trần C; 01 CCCD mang tên Nguyễn Thị D
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 25/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh)
3. Áp dụng điểm b, khoản 1, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017:
Tuyên buộc bị cáo Cao Minh H phải nộp lại 28.100.000 đồng, là tiền thu lợi bất chính để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
4. Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017:
Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Cao Minh H bồi thường số tiền 20.000.000 đồng cho ông Trần Tuấn A và bồi thường cho ông Lương Cao T2 số tiền 8.100.000 đồng. Thực hiện ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
Căn cứ Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015: Kể từ khi ông Trần Tuấn A; Lương Cao T2 có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo Cao Minh H
không bồi thường số tiền nêu trên thì hàng tháng các bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng N3 quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành án. Việc thi hành án được thi hành tại cơ quan Thi hành án có thẩm quyền.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Cao Minh H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.405.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
6. Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết tại địa phương.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Thanh Mười |
Bản án số 79/2025/HSST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự)
- Số bản án: 79/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cao Minh H - Trộm cắp tài sản
