Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ B

TỈNH LÂM ĐỒNG

Bản án số: 79/2025/HS-ST

Ngày: 30-5-2025.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đức Công.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Tố Như và bà Nguyễn Thị Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Dự là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Hoàng - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 65/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2025/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2025, đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Lê Anh T, tên gọi khác là: Không có, sinh ngày 04/9/1998; tại tỉnh Lâm Đồng; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Số E L, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; nghề nghiệp: Làm vườn; con ông Nguyễn Quốc T1, sinh năm 1959 (đã chết) và bà Lê Thị S, sinh năm 1962; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
  2. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/01/2025 đến ngày 06/01/2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt.

  3. Họ và tên: Hoàng Văn H, tên gọi khác: Huy Đốm, sinh ngày 05/9/1996; tại tỉnh Lâm Đồng; nơi đăng ký thường trú: Tổ B, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng và nơi cư trú: Thôn A, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: Lớp 07/12; nghề nghiệp: Kinh doanh; con ông: Không rõ và bà Hoàng Thị M, sinh năm 1977; vợ: Mai Thị H1, sinh năm 2000, con: Có 01 con, sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không.
  4. Nhân thân:

    • + Ngày 09/10/2012 bị UBND thành phố B ra Quyết định đưa vào trường giáo dưỡng 24 tháng về hành vi Gây rối trật tự công cộng.
    • + Ngày 21/8/2015 bị Công an thành phố B xử phạt số tiền 4.000.000đ về hành vi “Gây rối trật tự công cộng có mang theo vũ khí thô sơ”, theo Quyết định xử phạt vi

phạm hành chính số 142/QĐ-XPHC. Đến ngày 16/11/20215 đã chấp hành xong việc nộp phạt.

  • + Ngày 24/8/2016 bị Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xử phạt 06 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo Bản án hình sự sơ số 37/2016/HS-ST. Đến ngày 16/01/2017 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, ngày 11/10/2016 chấp hành xong toàn bộ bản án, đã được xóa án tích.
  • + Ngày 26/01/2025 và ngày 24/02/2025 Cơ quan CSĐT Công an thành phố B, tỉnh Lâm Đồng khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị can về tội “Tàng trữ hàng cấm” quy định tại khoản 1 Điều 191 BLHS theo Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 14/QĐ-ĐCSKTMT và Quyết định khởi tố bị can số 39/QĐ-ĐCSKT-MT. Ngày 24/4/2025 bị Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 12 tháng tù về tội “Tàng trữ hàng cấm”, theo bản án hình sự sơ thẩm số 66/2025/HS-ST.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/01/2025 đến ngày 06/01/2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt.

  1. Họ và tên: Phạm Vương Quốc Ý, tên gọi khác là: B, sinh ngày 25/8/1996; tại tỉnh Lâm Đồng; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Số C P, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Phạm Minh Đ, sinh năm 1967 và bà Chu Thị Châu D, sinh năm 1968; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
  2. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/01/2025 đến ngày 06/01/2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt.

  3. Họ và tên: Phạm Đình P, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 24/9/1996; tại tỉnh Lâm Đồng; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Thôn T, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; trình độ văn hóa: Lớp 10/12; nghề nghiệp: Công nhân; con ông Phạm Văn L, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị Lệ H2, sinh năm 1972; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
  4. Bị cáo bị bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt.

  5. Họ và tên: Phạm Quốc B1, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 01/6/2002; tại tỉnh Lâm Đồng; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Số A L, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; trình độ văn hóa: Lớp 09/12; nghề nghiệp: Làm vườn; con ông Phạm Văn B2, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1970; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
  6. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/01/2025 đến ngày 06/01/2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt.

  7. Họ và tên: Nguyễn Trường S1, tên gọi khác: Cu, sinh ngày 27/4/1990; tại tỉnh Lâm Đồng; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Số A L, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; trình độ văn hóa: Lớp 08/12; nghề nghiệp: Làm vườn; con ông Nguyễn Xuân T2,

sinh năm 1959 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1963; vợ: Phạm Cao Kim N, sinh năm 1995, con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/01/2025 đến ngày 06/01/2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt.

  1. Họ và tên: Phạm Ngọc T3, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 07/02/1986; tại tỉnh Lâm Đồng; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Thôn T, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; nghề nghiệp: Thợ xây; con ông Phạm Công T4, sinh năm 1955 (đã chết) và bà Mai Thị C, sinh năm 1957; vợ: Nguyễn Trần Thùy D1, sinh năm 1996, con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: Không.
  2. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt.

  3. Họ và tên: Phạm Ngọc Q, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 01/6/2002; tại tỉnh Lâm Đồng; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Thôn T, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Phạm Văn B2, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1970; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
  4. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt.

  5. Họ và tên: Trần Anh K, tên gọi khác: Cu, sinh ngày 30/11/1995; tại tỉnh Lâm Đồng; nơi đăng ký thường trú: Số G L, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng và nơi cư trú: Số E V, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Trần Phương P1, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị Bích H3, sinh năm 1974; vợ: Trần Thị V, sinh năm 1995 (đã ly hôn), con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không.
  6. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/01/2025 đến ngày 06/01/2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt.

+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Trường H4, sinh năm 1997; địa chỉ: Thôn A, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

+ Người làm chứng:

  • - Anh Phạm Minh Q1, sinh năm 2000; địa chỉ: Số B T, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
  • - Anh Nguyễn Lê Anh T5, sinh năm 1994; địa chỉ: Số E L, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
  • - Anh Nguyễn Văn Q2, sinh năm 1987, địa chỉ: Tổ A, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 10 giờ 00 phút ngày 05/01/2024 tại số nhà E đường L, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, Đ2 -Công an thành phố B tiến hành bắt quả tang 10 (mười) đối tượng đang tụ tập tham gia “Đánh bạc” dưới hình thức đá gà được thua bằng tiền, gồm: Phạm Vương Quốc Ý, Nguyễn Lê Anh T, Nguyễn Trường S1, Trần Anh K, Hoàng Văn H, Phạm Quốc B1, Nguyễn Trường H4, sinh năm 1997, nơi thường trú: Thôn A, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng, Nguyễn Lê Anh T5, sinh năm 1994, nơi thường trú: Số nhà E đường L, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, Nguyễn Văn Q2, sinh năm 1987, nơi thường trú: Tổ A, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, Phạm Minh Q1, sinh năm 2000, nơi thường trú: Số B đường T, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Cơ quan CSĐT đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với các đối tượng nêu trên đồng thời thu giữ tại hiện trường những đồ vật tài liệu sau: Thu giữ 01 (một) con gà que đen có trọng lượng 1,54kg; 02 (hai) cái cựa bằng kim loại dài 6cm; 01 (một) con gà điều có trọng lượng 1,4kg; 01 (một) con gà vàng có trọng lượng 1,46kg; 06 (sáu) cựa bằng kim loại dài 5cm; 01 (một) thanh đá mài có kích thước 9x1,7cm; 01 (một) cái cân đồng hồ loại 5kg, màu xanh trắng, nhãn hiệu: Nhơn Hoà; 06 (sáu) cuộn băng keo màu trắng (loại bằng vải dùng để quấn cựa gà) đã qua sử dụng. Thu giữ trên người Phạm Vương Q3 Ý số tiền 500.000đ (năm trăm ngàn đồng) và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu: Iphone 15, màu đen, số Imei: 359757425998830; thu giữ của Nguyễn Lê Anh T số tiền 800.000đ (tám trăm ngàn đồng), 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu: Samsung galaxy S22, màu hồng, số I:3550669 63420429; thu giữ trên người Phạm Minh Q1 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu: Iphone 15 Promax, màu xám, số Imei: 357300549468885; thu giữ Nguyễn Trường S1 số tiền 400.000đ (bốn trăm ngàn đồng), 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu: Oppo A54, màu xanh, số Imei: 868038050233601, thu giữ của Trần Anh K 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu: Iphone 11 Pro, màu xanh, số Imei:353237102821783; thu giữ trên người Nguyễn Trường H4 số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng), 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu: Iphone 13, màu trắng, số I: 355317936270312; thu giữ Hoàng Văn H 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu: Iphone 13 Promax, màu vàng Gold, số I: 350472593968040; thu giữ của Phạm Quốc B1 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu: Iphone 12 Pro, màu xanh, số Imei: 351194963491622; thu giữ trên người Nguyễn Văn Q2 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu: Iphone 14 Promax, màu xám, số I: 351914961290936. Kiểm tra xung quanh hiện trường thu giữ các tài sản, đồ vật sau:01 (một) xe ô tô nhãn hiệu: Toyota Fortuner, màu xám, biển số: 49A – 249.83 của Nguyễn Văn Q2;01 (một) xe mô tô nhãn hiệu: Yamaha Exciter, màu đỏ đen, biển số: 49G1 231.76;01 (một) xe mô tô nhãn hiệu: Honda Wave, màu đen, biển số: 49K1 – 199.63; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu: Honda Blade, màu đỏ, biển số: 49H1 160.41; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu: Honda Sh, màu trắng, biển số: 49G1 - 756.54;01 (một) xe mô tô nhãn hiệu: Honda Sh, màu trắng, biển số: 49AF – 147.70; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu: Honda Sh, màu trắng, biển số: 49AF – 147.95; 01 (một) xe mô tô màu đỏ đen, biển số: 49M8 –-6115.

Quá trình điều tra xác định: Vào khoảng 08 giờ 00 phút sáng ngày 05/01/2025 Hoàng Văn H gọi điện cho Nguyễn Lê Anh T hỏi mượn sân nhà T để tham gia đá gà được thua bằng tiền thì T đồng ý. H mang theo 01 con gà que đen cùng với Nguyễn Trường H4, sinh năm 1997, địa chỉ: Số C đường A, phường B, thành phố B đến nhà Nguyễn Lê Anh T. Sau đó T đã gọi điện cho Phạm Vương Q3 Ý để mang gà đến đá thắng thua bằng tiền với nhóm của H. Lúc này thì H nhắn tin qua ứng dụng Mesenger cho Trần Anh K hỏi mượn 01 con gà vàng để tham gia đá độ ăn tiền. K đồng ý nên đã nói với H cho người đến đón K. Do vậy H đã gọi điện thoại nhờ Nguyễn Công M1, sinh năm 2000, nơi thường trú: Thôn E, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng đến địa chỉ: Số E đường V, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng đón K đi đến nhà T, đồng thời H rủ thêm Phạm Minh Q1, sinh năm 2000, nơi thường trú: số B đường T, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, Nguyễn Văn Q2, sinh năm 1987, nơi thường trú: Tổ A, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng cùng đi đến nhà T để tham gia đá gà.

Đối với Phạm Vương Quốc Ý: Sau khi được T thông báo về việc đã tìm được kèo đá gà ăn tiền thì Ý đã gọi điện thoại cho Phạm Ngọc Q chuẩn bị 02 con gà để mang đi đá, Q đồng ý nên gọi điện cho Phạm Ngọc T3, sinh năm 1986, địa chỉ: Số I L, thôn T, xã L, thành phố B cùng đi đến nhà T để tham gia đi đá gà. Sau đó Ý rủ thêm Nguyễn Trường S1, sinh năm 1990, địa chỉ: Số A đường L, thôn T, xã L, thành phố B, Phạm Quốc B1, Phạm Đình P, cùng đi tham gia đá gà thắng thua bằng tiền. Khi đi đến nhà T thì Ý mang theo 01 con gà điều đỏ có trọng lượng 1,46kg, Q mang theo 01 con gà điều vàng có trọng lượng 1,58kg. Khi nhóm của Ý và nhóm của H đến nhà T thì được T dẫn ra bãi đất trống phía sau nhà để hai bên tham gia đá gà. Tại đây T là người đứng ra cân gà và cáp kèo để đá, sau khi cân 04 con gà thì T đưa ra kèo gà điều đỏ nặng 1,45kg của Ý đá với 01 con gà vàng nặng 1,47kg của bên H với tỷ lệ 100 ăn 95 (tức là 1.000.000đ thì ăn được 950.000đ) do gà của bên H nặng kilogam hơn. Con gà điều vàng nặng 1,58kg của Quốc đá với gà que đen nặng 1,54kg của bên H đốm với tỷ lệ 100 ăn 85 (tức 1.000.000đ thì ăn được 850.000đ) do gà của Q nặng hơn gà của nhóm bên H. Sau khi cân gà xong thì thì hai bên bắt đầu đá gà cá cược thắng thua bằng tiền như sau: Con gà Điều của Phạm Vương Q3 Ý với con gà vàng của Hoàng Văn H (con gà này do Huy mượn của Trần Anh K), Ý và H thỏa thuận đá xổ với nhau với số tiền là 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng), gà của H chấp gà của Ý theo tỷ lệ 10 ăn 9,5. Trong trận này, Ý bỏ ra số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng), Nguyễn Trường S1 bỏ ra số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng), Phạm Quốc B1 bỏ ra số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng), Phạm Ngọc Q bỏ ra số tiền 9.000.000đ (thực tế mới đưa cho Ý 5.200.000đ, còn lại 3.800.000đ chưa đưa), Phạm Ngọc T3 bỏ ra số tiền 3.000.000đ, Phạm Đình P bỏ ra số tiền 1.000.000đ để tham gia cá cược với H. Sau khi Ý, K cột cựa gà thì Nguyễn Lê Anh T làm trọng tài hô “1 2 3” để hai bên thả gà và bắt đầu trận đấu. Kết quả gà của Ý thua nên Ý đã sử dụng số tài khoản 1020331832 Ngân hàng V1 của mình chuyển đến số tài khoản 050102698204 Ngân hàng S2 của Nguyễn Lê Anh T số tiền 23.750.000đ (hai mươi ba triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng) để T chuyển tiền cho H.

Sau khi kết thúc trận đá gà thứ nhất hai bên đang thỏa thuận đánh bạc dưới hình thức đá gà ăn tiền cho trận tiếp theo giữa con gà điều của Phạm Ngọc Q với gà

que đen của H. Lúc này T vẫn làm trọng tài và ra kèo đá xổ với số tiền là 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng), tỷ lệ gà của Quốc chấp theo tỷ lệ 10 ăn 8,5. Tuy nhiên, giữa H và nhóm của Ý chưa thỏa thuận bắt kèo này mà khi hai bên đang cuốn cựa gà để chuẩn bị đá gà và thỏa thuận kèo với nhau thì Cơ quan Công an đến kiểm tra phát hiện bắt quả tang các đối tượng nêu trên về hành vi đánh bạc.

Như vậy, tổng số tiền các bị cáo Hoàng Văn H, Phạm Vương Quốc Ý, Nguyễn Trường S1, Trần Anh K, Phạm Quốc B1, Phạm Ngọc Q, Phạm Đình P, Phạm Ngọc T3 tham gia đánh bạc được xác định là 48.750.000đ (bốn mươi tám triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng).

Ngày 06/01/2025 Phạm Ngọc Q, nơi thường trú: thôn T, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; Phạm Đình P, sinh năm 1996, nơi thường trú: Thôn T, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; Phạm Ngọc T3, sinh năm 1986, nơi thường trú: thôn T, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố B đầu thú, khai nhận nhận hành vi phạm tội của mình.

Bản Cáo trạng số 77/CT-VKSBL, ngày 28 tháng 4 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Nguyễn Lê Anh T về tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự năm 2015. Các bị cáo Hoàng Văn H, Phạm Vương Quốc Ý, Nguyễn Trường S1, Trần Anh K, Phạm Quốc B1, Phạm Ngọc Q, Phạm Đình P, Phạm Ngọc T3 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Lê Anh T phạm tội “Tổ chức đánh bạc”. Các bị cáo Hoàng Văn H, Phạm Vương Quốc Ý, Nguyễn Trường S1, Trần Anh K, Phạm Quốc B1, Phạm Ngọc Q, Phạm Đình P, Phạm Ngọc T3 phạm tội “Đánh bạc”.

  1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; Điều 17, 35; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Lê Anh T từ 100.000.000đ đến 120.000.000đ nộp ngân sách Nhà nước.
  2. Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17, 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Văn H từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Phạt bổ sung số tiền từ 20.000.000đ đến 30.000.000đ nộp ngân sách Nhà nước.
  3. Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17, 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Vương Q3 Ý từ 40.000.000đ đến 50.000.000đ nộp ngân sách Nhà nước.
  4. Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17, 35; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Đình P từ 30.000.000đ đến 40.000.000đ nộp ngân sách Nhà nước.
  5. Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17, 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Quốc B1 từ 40.000.000đ đến 50.000.000đ nộp ngân sách Nhà nước.
  6. Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17, 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Trường S1 từ 40.000.000đ đến 50.000.000đ nộp ngân sách Nhà nước.
  7. Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17, 35; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Ngọc T3 từ 30.000.000đ đến 40.000.000đ nộp ngân sách Nhà nước.
  8. Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17, 35; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Ngọc Q từ 30.000.000đ đến 40.000.000đ nộp ngân sách Nhà nước.
  9. Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17, 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Anh K từ 40.000.000đ đến 50.000.000đ nộp ngân sách Nhà nước.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT, Công an thành phố B đã thu giữ và ra quyết định xử lý vật chứng trả lại: 01 (một) xe ôtô nhãn hiệu Toyota Fortuner, màu bạc, biển số: 49A-249.83, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax màu xám cho Nguyễn Văn Q2; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda SH màu trắng, biển số: 49G1- 756.54 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 49000001 (bản gốc) cho chị Mai Thị H1, sinh năm 2000, nơi thường trú: Thôn F, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng là chủ sở hữu hợp pháp; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu: Honda Sh, màu trắng, biển số: 49AF – 147,70 cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Lâm Thị L2, sinh năm: 1974, nơi thường trú: thôn F, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; 01 (một) xe mô tô nhân hiệu: Honda Sh, màu trắng, biển số: 49AF - 147.95 cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Ngô Đức T6, sinh năm: 1998, nơi thường trú: thôn E, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; 01 (một) xe mô tô nhân hiệu: Honda Wave, màu đen bạc, biển số: 49K 1 – 199.63 cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Nguyễn Trần Thùy D1, sinh năm: 1996, nơi thường trú: số nhà I đường L, thôn T, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu: Tirana, màu đỏ, biển số: 49M8 – 6115 cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Phạm Đình P, sinh năm 1996, nơi thường trú: thôn T, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu: Honda Blade, màu đỏ, biển số: 49H1 160.41 cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Nguyễn Trường S1, sinh năm 1990, nơi thường trú: số nhà A đường L, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu: Iphone 13, màu trắng, số I: 355317936270312; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu: Yamaha Exciter, màu đỏ đen, biển số: 49G1 - 231.76 cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Nguyễn Trường H4, sinh năm: 1997, nơi thường trú: thôn A, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu: Iphone 15 Promax, màu xám, số Imei: 357300549468885 cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Phạm Minh Q1, sinh năm: 2000, nơi thường trú: số nhà B đường T, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng nên không xem xét.

Đã tịch thu tiêu hủy: 01 con gà điều đỏ có trọng lượng 1,4kg, 01 con gà vàng có trọng lượng 1,46kg, 01 con gà que có trọng lượng 1,54kg. Đối với con gà điều đỏ

do Q mang tới quá trình bắt quả tang đã chạy khỏi hiện trường nên cơ quan CSĐT không thu giữ được nên không xem xét.

Đối với 02 (hai) cái cựa bằng kim loại dài 6cm; 06 (sáu) cựa bằng kim loại dài 5cm; 01 (một) thanh đá mài có kích thước 9x1,7cm; 01 (một) cái cân đồng hồ loại 5kg, màu xanh trắng, nhãn hiệu: Nhơn Hoà; 06 (sáu) cuộn băng keo màu trắng (loại bằng vải dùng để quấn cựa gà) đã qua sử dụng. Đây là vật chứng chứng minh tội phạm nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu: Iphone 15, màu đen, số Imei: 359757425998830 của Phạm Vương Q3 Ý; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu: Samsung galaxy S22, màu hồng, số Imei: 3550669 63420429 của Nguyễn Lê Anh T; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu: Iphone 13 Promax, màu vàng Gold, số I: 350472593968040 của Hoàng Văn H. Đây là vật chứng liên quan đến việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu: Oppo A54, màu xanh, số Imei: 868038050233601 của Nguyễn Trường S1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro, màu xanh, số Imei: 351194963491622 của Phạm Quốc B1; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu: Iphone 11 Pro, màu xanh, số Imei: 353237102821783 của Trần Anh K. Đây là vật chứng không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho các bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

Vật chứng là tiền: 56.250.000đ, xử lý như sau:

Đối với số tiền 3.700.000đ thu giữ của các bị cáo Ý, S1, T và của anh H4. Trong đó: Số tiền của bị cáo Ý là 500.000đ, bị cáo S1 là 400.000đ và của bị cáo T 800.000đ. Đây là tiền không liên quan đến việc đánh bạc nên trả lại cho các bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án. Số tiền 2.000.000đ của anh Nguyễn Trường H4 không liên quan đến việc đánh bạc nên trả lại cho anh H4.

Đối với số tiền 52.550.000đ. Trong đó: Bị cáo Nguyễn Lê Anh T đã giao nộp số tiền mà bị cáo Ý chuyền khoản cho bị cáo H thắng bạc nhưng T chưa chuyển khoản là 23.750.000đ cho H; bị cáo H tác động đến gia đình để giao nộp số tiền đánh bạc là 25.000.000đ và bị cáo Q3 giao nộp số tiền đánh bạc 3.800.000đ nhưng chưa giao cho bị cáo H nhận. Đây là tiền sử dụng vào việc đánh bạc nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

* Các bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến và không khiếu nại gì đối với bản cáo trạng, không tranh luận, đối đáp với Kiểm sát viên.

* Các bị cáo nói lời sau cùng: Đều nhận thức được hành vi đánh bạc và tổ chức đánh bạc là vi phạm pháp luật, là sai trái, đề nghị HĐXX xem xét xử phạt mức hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi cấu thành tội phạm: Hội đồng xét xử nhận thấy, tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Lê Anh T, Hoàng Văn H, Phạm Vương Quốc Ý, Nguyễn Trường S1, Trần Anh K, Phạm Quốc B1, Phạm Ngọc Q, Phạm Đình P và Phạm Ngọc T3 đã khai và thừa nhận hành vi phạm tội phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra; nội dung Bản Cáo trạng đã truy tố; luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa; nội dung Bản Kết luận điều tra; biên bản bắt người phạm tội quả tang; lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ chứng minh đã được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định và đã được kiểm tra tại phiên tòa.

Như vậy, có đủ căn cứ kết luận: Vào ngày 05/01/2025 tại số nhà E đường L, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, Nguyễn Lê Anh T đã thực hiện hành vi chuẩn bị địa điểm, cân, cuốn băng keo và đứng ra làm trọng tài tổ chức cho các bị cáo trong vụ án thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức đá gà được thua bằng tiền. Trần Anh K đã có hành vi giúp sức cho Hoàng Văn H thông qua việc cho mượn gà, cuốn cựa gà để Hoàng Văn H thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức đá gà thắng thua bằng tiền với Phạm Vương Quốc Ý, Phạm Đình P, Phạm Quốc B1, Phạm Ngọc T3, Nguyễn Trường S1, Phạm Ngọc Q với tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 48.750.000đ (bốn mươi tám triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng).

Hành vi của bị cáo Nguyễn Lê Anh T đã phạm vào tội “Tổ chức đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Hoàng Văn H, Phạm Vương Quốc Ý, Nguyễn Trường S1, Trần Anh K, Phạm Quốc B1, Phạm Ngọc Q, Phạm Đình P và Phạm Ngọc T3 đã phạm vào tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Tính chất, mức độ của tội phạm: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng. Các bị cáo là những người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tổ chức đánh bạc và đánh bạc dưới hình thức đá gà, được thua bằng tiền bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì thái độ xem thường kỷ cương pháp luật với mục đích nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo Nguyễn Lê Anh T thực hiện tội phạm nghiêm trọng. Các bị cáo Hoàng Văn H, Phạm Vương Quốc Ý, Nguyễn Trường S1, Trần Anh K, Phạm Quốc B1, Phạm Ngọc Q, Phạm

Đình P và Phạm Ngọc T3 thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng, gây mất trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về nhân thân:

Bị cáo Nguyễn Lê Anh T, Phạm Vương Quốc Ý, Nguyễn Trường S1, Trần Anh K, Phạm Quốc B1, Phạm Ngọc Q, Phạm Đình P và Phạm Ngọc T3 có nhân thân tốt.

Bị cáo Hoàng Văn H có nhân thân rất xấu.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy, cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Lê Anh T phạm tội lần đầu. Các bị cáo Phạm Vương Quốc Ý, Nguyễn Trường S1, Trần Anh K, Phạm Quốc B1, Phạm Ngọc Q, Phạm Đình P và Phạm Ngọc T3 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Nguyễn Lê Anh T, Hoàng Văn H và Phạm Ngọc Q tự nguyện giao nộp lại số tiền đánh bạc; các bị cáo Phạm Ngọc Q, Phạm Đình P và Phạm Ngọc T3 đầu thú nên được áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[7] Vụ án có đồng phạm nên cần xem xét tính chất và mức độ của từng bị cáo như sau:

Bị cáo Nguyễn Lê Anh T là người tổ chức cho các bị cáo đánh bạc nên tính chất mức độ của bị cáo cao nhất.

Các bị cáo Hoàng Văn H, Phạm Vương Quốc Ý, Phạm Quốc B1, Phạm Ngọc Q, Phạm Đình P, Nguyễn Trường S1 và Phạm Ngọc T3 là những người trực tiếp tham gia đánh bạc đánh bạc và bị cáo Trần Anh K là người giúp sức tích cực cho bị cáo H mượn gà, cuốn cậy gà để cho các bị cáo đánh bạc nên tính chất, mức độ ngang nhau và thấp hơn bị cáo T.

[8] Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy, cần cách ly khỏi xã hội đối với bị cáo Hoàng Văn H, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định tương xứng với hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra.

Các bị cáo còn lại, xét thấy không bắt đi chấp hành hình phạt tù cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà chỉ cần xử phạt hình phạt chính là phạt bằng tiền cũng đủ răn đe, giáo dục và phòng ngừa. Vì vậy, áp dụng Điều 35 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo là phù hợp.

Đối với bị cáo Hoàng Văn H. Ngày 24/4/2025 bị Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng, xử phạt 12 tháng tù, về tội “Tàng trữ hàng cấm”, theo bản

án hình sự sơ thẩm số 66/2025/HS-ST, bản án này đã có hiệu lực pháp luật. Áp dụng Điều 56 BLHS để tổng hợp hình phạt của hai bản án.

[10] Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 điều 321 Bộ luật Hình sự. Phạt bổ sung đối với bị cáo Hoàng Văn H số tiền 20.000.000đ nộp ngân sách Nhà nước.

[11] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử lý như sau:

Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT, Công an thành phố B đã thu giữ và ra quyết định xử lý vật chứng trả lại: 01 (một) xe ôtô nhãn hiệu Toyota Fortuner, màu bạc, biển số: 49A-249.83, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax màu xám cho Nguyễn Văn Q2; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda SH màu trắng, biển số: 49G1- 756.54 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 49000001 (bản gốc) cho chị Mai Thị H1, sinh năm 2000, nơi thường trú: Thôn F, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng là chủ sở hữu hợp pháp; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu: Honda Sh, màu trắng, biển số: 49AF – 147,70 cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Lâm Thị L2, sinh năm: 1974, nơi thường trú: thôn F, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; 01 (một) xe mô tô nhân hiệu: Honda Sh, màu trắng, biển số: 49AF - 147.95 cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Ngô Đức T6, sinh năm: 1998, nơi thường trú: thôn E, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; 01 (một) xe mô tô nhân hiệu: Honda Wave, màu đen bạc, biển số: 49K 1 – 199.63 cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Nguyễn Trần Thùy D1, sinh năm: 1996, nơi thường trú: số nhà I đường L, thôn T, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu: Tirana, màu đỏ, biển số: 49M8 – 6115 cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Phạm Đình P, sinh năm 1996, nơi thường trú: thôn T, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu: Honda Blade, màu đỏ, biển số: 49H1 160.41 cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Nguyễn Trường S1, sinh năm 1990, nơi thường trú: số nhà A đường L, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu: Iphone 13, màu trắng, số I: 355317936270312; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu: Yamaha Exciter, màu đỏ đen, biển số: 49G1 - 231.76 cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Nguyễn Trường H4, sinh năm: 1997, nơi thường trú: thôn A, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu: Iphone 15 Promax, màu xám, số Imei: 357300549468885 cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Phạm Minh Q1, sinh năm: 2000, nơi thường trú: số nhà B đường T, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng nên không xem xét.

Đã tịch thu tiêu hủy: 01 con gà điều đỏ có trọng lượng 1,4kg, 01 con gà vàng có trọng lượng 1,46kg, 01 con gà que có trọng lượng 1,54kg. Đối với con gà điều đỏ do Q mang tới. Quá trình bắt quả tang đã chạy khỏi hiện trường nên cơ quan CSĐT không thu giữ được nên không xem xét.

Đối với 02 (hai) cái cựa bằng kim loại dài 6cm; 06 (sáu) cựa bằng kim loại dài 5cm; 01 (một) thanh đá mài có kích thước 9x1,7cm; 01 (một) cái cân đồng hồ loại 5kg, màu xanh trắng, nhãn hiệu: Nhơn Hoà; 06 (sáu) cuộn băng keo màu trắng (loại bằng vải dùng để quần cựa gà) đã qua sử dụng. Đây là vật chứng chứng minh tội phạm nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu: Iphone 15, màu đen, số Imei: 359757425998830 của Phạm Vương Q3 Ý; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu: Samsung galaxy S22, màu hồng, số Imei: 3550669 63420429 của Nguyễn Lê Anh T; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu: Iphone 13 Promax, màu vàng Gold, số I: 350472593968040 của Hoàng Văn H. Đây là vật chứng liên quan đến việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu: Oppo A54, màu xanh, số Imei: 868038050233601 của Nguyễn Trường S1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro, màu xanh, số Imei: 351194963491622 của Phạm Quốc B1; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu: Iphone 11 Pro, màu xanh, số Imei: 353237102821783 của Trần Anh K. Đây là vật chứng không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho các bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

Vật chứng là tiền: 56.250.000đ, xử lý như sau:

Đối với số tiền 3.700.000đ thu giữ của các bị cáo Ý, S1, T và của anh H4. Trong đó: Số tiền của bị cáo Ý là 500.000đ, bị cáo S1 là 400.000đ và của bị cáo T 800.000đ. Đây là tiền không liên quan đến việc đánh bạc nên trả lại cho các bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án. Số tiền 2.000.000đ của anh Nguyễn Trường H4 không liên quan đến việc đánh bạc nên trả lại cho anh H4.

Đối với số tiền 52.550.000đ. Trong đó: Bị cáo Nguyễn Lê Anh T đã giao nộp số tiền mà bị cáo Ý chuyền khoản cho bị cáo H thắng bạc nhưng T chưa chuyển khoản là 23.750.000đ cho H; bị cáo H tác động đến gia đình để giao nộp số tiền đánh bạc là 25.000.000đ và bị cáo Q3 giao nộp số tiền đánh bạc 3.800.000đ nhưng chưa giao cho bị cáo H nhận. Đây là tiền sử dụng vào việc đánh bạc nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

[12] Các vấn đề khác.

Đối với Phạm Minh Q1, Nguyễn Trường H4, Nguyễn Lê Anh T5, Nguyễn Văn Q2 quá trình lập biên bản bắt người phạm tội quả tang thì những người này đang có mặt tại sân đá gà. Tuy nhiên, quá trình điều tra xác định những người này chỉ đứng xem không tham gia đánh bạc nên cơ quan CSĐT đã ra Quyết định trả tự do và không xem xét trách nhiệm hình sự.

Đối với Nguyễn Công M1 đã có hành vi chở Trần Anh K mang gà đến cho Hoàng Văn H mượn để sử dụng vào mục đích đánh bạc dưới hình thức đá gà. Quá trình điều tra xác định khi chở K đến địa điểm đánh bạc thì M1 đi uống cà phê và không biết K sử dụng con gà K mang theo vào mục đích đánh bạc thắng thua bằng tiền. Do vậy, cơ quan CSĐT công an tỉnh L không xem xét trách nhiệm hình sự.

Đối với Nguyễn Hoàng T7, sinh năm 1997, địa chỉ: số nhà D đường T, tổ A, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng là người đã được Hoàng Văn H và Phạm Vương Quốc Ý hỏi về việc có kèo đá gà hay không, sau đó T7 đã nói với H và Ý tự liên hệ với T để hỏi về việc đá gà. Tuy nhiên, T7 không biết việc H và Ý tham gia đá gà thắng thua bằng tiền là nằm ngoài ý thức của T7. Do vậy, cơ quan CSĐT Công an tỉnh L không xem xét trách nhiệm hình sự.

[13] Xét ý kiến trình bày luận tội và quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên có căn cứ chấp nhận.

[14] Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Lê Anh T phạm tội “Tổ chức đánh bạc”. Các bị cáo Hoàng Văn H, Phạm Vương Quốc Ý, Phạm Quốc B1, Phạm Ngọc Q, Phạm Đình P, Phạm Ngọc T3, Nguyễn Trường S1Trần Anh K phạm tội “Đánh bạc”.
    1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; Điều 17, 35; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Lê Anh T số tiền 120.000.000đ (một trăm hai mươi triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.
    2. Áp dụng khoản 1 và khoản 3 Điều 321; Điều 17, 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 56 và Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Văn H, tên gọi khác H đốm 12 (mười hai) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 12 (mười hai) tháng tù theo bản án hình sự sơ thẩm số 66/2025/HS-ST ngày 24/4/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng. Buộc bị cáo phải chấp hành chung của hai bản án là 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án (được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 05/01/2025 đến ngày 06/01/2025). Phạt bổ sung số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.
    3. Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17, 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Vương Quốc Ý, tên gọi khác là B số tiền 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.
    4. Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17, 35; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Đình P số tiền 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.
    5. Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17, 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Quốc B1 số tiền 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.
    6. Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17, 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Trường S1, tên gọi khác là C1 số tiền 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.
    7. Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17, 35; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Ngọc T3 số tiền 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.
    8. Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17, 35; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Ngọc Q số tiền 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.
  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • + Tịch thu tiêu hủy gồm: 02 (hai) cái cựa bằng kim loại dài 6cm; 06 (sáu) cựa bằng kim loại dài 5cm; 01 (một) thanh đá mài có kích thước 9x1,7cm; 01 (một) cái cân đồng hồ loại 5kg, màu xanh trắng, nhãn hiệu: Nhơn Hoà; 06 (sáu) cuộn băng keo màu trắng (loại bằng vải dùng để quần cựa gà) đã qua sử dụng. Đây là vật chứng chứng minh tội phạm nên tịch thu tiêu hủy.
    • + Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: Số tiền 52.550.000đ (năm mươi hai triệu, năm trăm năm mươi ngàn đồng); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu: Iphone 15, màu đen, số Imei: 359757425998830; 01 (một) điện thoại di động nhân hiệu: Samsung galaxy S22, màu hồng, số Imei: 355066963420429 và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu: Iphone 13 Promax, màu vàng Gold, số I: 350472593968040.
    • + Trả lại cho: Bị cáo Nguyễn Lê Anh T số tiền 800.000đ (tám trăm ngàn đồng); bị cáo Phạm Vương Q3 Ý 500.000đ (năm trăm ngàn đồng); bị cáo Nguyễn Trường S1 là 400.000đ (bốn trăm ngàn đồng) và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu: Oppo A54, màu xanh, số Imei: 868038050233601; bị cáo Phạm Quốc B1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro, màu xanh, số Imei: 351194963491622 và bị cáo Trần Anh K 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu: Iphone 11 Pro, màu xanh, số I: 353237102821783 nhưng tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án.
    • + Trả lại cho anh Nguyễn Trường H4 số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng).
    • Tình trạng vật chứng theo biên bản về việc giao, nhận vật chứng ngày 06/5/2025; tiền theo Uỷ nhiệm chi ngày 05/5/2025 giữa Cơ quan Công an tỉnh L và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.
  3. Về án phí: Căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về ... án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Nguyễn Lê Anh T, Hoàng Văn H, Phạm Vương Quốc Ý, Nguyễn Trường S1, Phạm Quốc B1, Phạm Ngọc Q, Phạm Đình P, Phạm Ngọc T3Trần Anh K mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND tỉnh Lâm Đông;
  • - VKSND thành phố B;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Chi cục T.H.A..DS thành phố B;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Đức Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 79/2025/HS-ST ngày 30/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG về hình sự (tổ chức đánh bạc và đánh bạc)

  • Số bản án: 79/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: T CĐP đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger