Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THÁI THỤY

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2025/HS-ST

Ngày: 28/5/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Huệ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Văn Tiến và bà Đỗ Thị Thu Hà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 70/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2025 đối với các bị cáo:

  • * Họ và tên: Nguyễn Trung A; sinh ngày 25/12/1997; nơi cư trú: thôn Q, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; giới tính: nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn: 08/12; nghề nghiệp: lao động tự do; căn cước công dân số: [...]. Con ông Nguyễn Minh H và bà Đinh Thị L. Bị cáo chưa có vợ, con.

    Tiền án: Bản án số 28/2022/HSST ngày 07/4/2022, Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo chấp hành án phí hình sự và phạt sung công ngày 23/5/2022; chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/10/2023.

    Tiền sự: không.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/12/2024 đến ngày 22/12/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực Thành phố.

    Trích xuất có mặt tại phiên toà.

  • * Họ và tên: Tạ Duy H1; sinh ngày 19/7/1987; nơi cư trú: thôn Q, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; giới tính: nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn: 09/12; nghề nghiệp: lao động tự do; căn cước công dân số: [...]. Con ông Tạ Duy L1 và bà Nguyễn Thị D. Vợ Nguyễn Thị N, có 01 con.

    Tiền án, tiền sự: không.

    Nhân thân:

    • + Bản án số 36/2006/HSST ngày 09/11/2006 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy xử phạt 01 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/8/2007; nộp số tiền truy thu sung công 50.000 đồng ngày 21/02/2012; đối với án phí hình sự sơ thẩm và truy thu sung công 100.000 đồng, Chi cục Thi hành án dân sự Thái Thụy ra Quyết định đình chỉ thi hành án ngày 15/10/2012. Đã xoá án tích.

    • + Bản án số 46/2011/HSST ngày 06/4/2011 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình xử phạt 08 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/02/2017; Chi cục Thi hành án dân sự Thái Thụy ra Quyết định đình chỉ thi hành án số 21 ngày 07/4/2017 đối với số tiền án phí hình sự và phạt sung công của bị cáo. Đã xoá án tích.

    • + Bản án số 11/2020/HS-ST ngày 18/02/2020 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy xử phạt 01 năm 09 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/6/2021; chấp hành xong án phí hình sự ngày 14/4/2020. Đã xoá án tích.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/12/2024 đến ngày 22/12/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.

    Trích xuất có mặt tại phiên toà.

  • * Họ và tên: Nguyễn Tam V; sinh ngày 01/10/1986; nơi cư trú: thôn Q, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; giới tính: nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn: 09/12; nghề nghiệp: lao động tự do; căn cước công dân số: [...]. Con ông Nguyễn Tam V1 (đã chết) và bà Tạ Thị L2. Bị cáo chưa có vợ, con.

    Tiền sự: không.

    Tiền án: 04.

    • + Bản án số 33/2006/HSST ngày 25/10/2006 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/11/2007; chấp hành án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm ngày 09/01/2007; chưa bồi thường cho người bị hại số tiền 37.000 đồng.

    • + Bản án số 36/2008/HSST ngày 23/9/2008 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/6/2009; chấp hành án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm ngày 02/8/2011; chưa bồi thường cho người bị hại số tiền 100.000 đồng.

    • + Bản án số 50/2011/HSST ngày 13/4/2011 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình xử phạt 05 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/8/2015; chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 30/8/2011.

    • + Bản án số 81/2017/HSST ngày 17/8/2017 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/5/2023; chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 26/10/2017.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/12/2024 đến ngày 22/12/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực Thái T.

    Trích xuất có mặt tại phiên toà.

  • * Họ và tên: Nguyễn Tiến D1, sinh ngày 17/9/1988; nơi cư trú: tổ dân phố H, thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình; giới tính: nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn: 06/12; nghề nghiệp: lao động tự do; căn cước công dân số: [...]. Con ông Nguyễn Tiến H2 và bà Nguyễn Thị T (đều đã chết). Vợ: Nguyễn Thị T1, chưa có con.

    Tiền sự: không.

    Tiền án: 02.

    • + Bản án số 233/2008/HSST ngày 18/7/2008 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xử phạt 48 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/8/2010; chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 28/10/2008 và án phí dân sự sơ thẩm ngày 18/3/2009; chưa chấp hành xong phần bồi thường trách nhiệm dân sự cho người bị hại số tiền 13.161.300 đồng.

    • + Bản án số 565/2012/HSST ngày 26/12/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 17 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/4/2024. Đã bồi thường 500.000 đồng (vào ngày 30/8/2021 và 07/10/2021); còn lại phải bồi thường 914.190.000 đồng, án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng và án phí dân sự sơ thẩm 39.440.000 đồng chưa nộp.

    Nhân thân:

    • + Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 66 ngày 26/9/2005 của Công an huyện T, thành phố Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”; đã chấp hành xong ngày 29/9/2005.

    • + Bản án số 15/2007/HSST ngày 28/02/2007 của Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/8/2007; chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 17/7/2007. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi và người bị hại chưa có đơn yêu cầu thi hành án.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/12/2024 đến ngày 22/12/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực Thái T.

    Trích xuất có mặt tại phiên toà.

* Người làm chứng:

- Anh Nguyễn Cao K, sinh năm 1999; địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do là bạn bè với nhau, khoảng 22 giờ ngày 14/12/2024, Nguyễn Trung A cầm bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế đến nhà Tạ Duy H1 tại thôn Q, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Trung Anh để bộ dụng cụ sử dụng ma túy xuống dưới gầm bàn uống nước tại phòng khách nhà H1, sau đó ngủ qua đêm tại đây. Khoảng 15 giờ ngày 15/12/2024, Nguyễn Cao K là bạn của Trung A đến nhà Hoàng chơi, khi đến có H1 và Trung A đang ở nhà. Thấy K đến chơi, Trung A hỏi H1 “có biết chỗ nào bán ma túy đá không đi mua về cùng sử dụng”, nhưng H1 nói không biết chỗ bán ma túy. Lúc này, Nguyễn Tam V là bạn của H1 và Trung A đến nhà H1 chơi. Khi V vào nhà H1, H1 hỏi V “biết chỗ nào có đá không lấy hộ tao ba trăm”, Trung A cũng nhờ V đi mua hộ ma túy, do V là người sử dụng ma túy đá và thấy có Trung A, K ở nhà H1 nên V biết Trung A và H1 nhờ V mua ma túy về để mọi người sử dụng. V đồng ý, Trung A đưa cho V 300.000 đồng gồm 01 tờ tiền 100.000 đồng và 01 tờ tiền 200.000 đồng.

Khoảng 16 giờ cùng ngày, V đi bộ đến nhà của Nguyễn Tiến D1 tại tổ dân phố H, thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình, V hỏi và mua được của D1 01 túi ma túy dạng đá với giá 300.000 đồng, V cầm túi ma túy về nhà H1 thì gặp H1 tại cửa nhà, V đưa cho H1 túi ma túy đá nhưng H1 bảo V mang vào đưa cho Trung A. V cầm túi ma túy vào đưa cho Trung A đang nằm ở giường, V để túi ma túy trên giường chỗ Trung A nằm, sau đó V đi về. Một lúc sau H1 đi vào thấy Trung A đang nằm trên giường, H1 hỏi Trung A “túi đồ đâu”, thì Trung A lấy túi ma túy để trên giường gần chỗ nằm của Trung A và ném túi ma túy ra giường về phía H1, H1 nhặt túi ma túy cầm ra bàn uống nước tại phòng khách rồi lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá do Trung A cầm sang nhà H1 từ tối hôm trước. H1 đổ hết số ma túy đá trong túi vào trong cóng thủy tinh của bộ D2 sử dụng ma túy đá, dùng bật lửa ga màu đỏ châm cho bật lửa ga màu đỏ có gắn ống kim loại để đốt nóng cóng thủy tinh nấu chảy ma túy trong cóng. Sau khi nấu ma túy xong, H1 cầm ống hút sử dụng ma túy một lần rồi đứng dậy đi ra ngoài quán tạp hóa gần nhà mua nước và mì tôm, ma túy còn lại trong cóng H1 để cho Trung A và K sử dụng, trước khi đi H1 có nói với Trung A “bạn của mày thì mày ra mà tiếp” ý của H1 nói Trung A ra mời và cùng K sử dụng ma túy. Trung Anh ngồi dưới đất tự dùng bật lửa đốt nóng cóng thủy tinh chứa ma túy sử dụng rồi đưa bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá cho K và nói “Em sử dụng đi”. K cầm bộ dụng cụ rồi dùng bật lửa đốt nóng cóng thủy tinh và tự sử dụng ma túy. Lúc sau H1 về đến nhà thì có tổ công tác của Công an huyện T phối hợp cùng Công an xã T, huyện T tiến hành kiểm tra nhà ở của H1 phát hiện trong phòng khách nhà H1 có H1, Trung A và K, trên nền nhà có 01 hộp kim loại hình trụ màu vàng, đỏ dạng hộp bánh nhãn hiệu DANISH COOKIES, bên trong có 01 túi nilon trong suốt; 02 chiếc bật lửa ga bằng nhựa màu đỏ trong đó 01 chiếc đầu ra ga gắn 01 ống có một đầu bằng kim loại, một đầu bằng nhựa; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế gồm 01 vỏ chai bằng nhựa trong suốt bên trong chứa nước, 01 nắp chai bằng nhựa màu xanh, mặt nắp có đục 02 lỗ trong đó 01 lỗ gắn 01 ống thủy tinh trong suốt một đầu hình cầu có lỗ tròn trong có bám dính chất màu đen, 01 lỗ gắn 01 ống hút nhiều màu sắc. H1, Trung A và K khai nhận đó là các dụng cụ mà H1, Trung A và K vừa dùng để sử dụng trái phép chất ma túy. Tổ công tác tiến hành niêm phong toàn bộ số vật chứng trên và làm các thủ tục theo quy định của pháp luật. Cơ quan Công an tiến hành triệu tập đối với Nguyễn Tam V để làm rõ về hành vi phạm tội của V, quá trình làm việc V đã khai nhận toàn bộ nội dung việc biết rõ tại nhà H1 có Trung A, có H1 và anh Nguyễn Cao K, V biết rõ việc Trung A, H1 nhờ đi mua ma túy đá về để cả nhóm sử dụng.

Đối với hành vi Mua bán trái phép chất ma túy của Nguyễn Tiến D1: Lực lượng Công an tiến hành triệu tập đối với Nguyễn Tiến D1 để làm rõ về hành vi bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Tam V, quá trình làm việc D1 đã khai nhận: Trưa ngày 15/12/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Nguyễn Tiến D1 đi bộ từ nhà D1 đến tổ dân phố M, thị trấn D, huyện T để tìm mua ma túy. Tại đây D1 gặp và mua được 01 túi ma túy đá với giá 300.000 đồng của một người đàn ông khoảng 40 tuổi, D1 không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này. D1 cầm túi ma túy vừa mua được đi về nhà, D1 chế tạo bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá và lấy một phần ma túy đá vừa mua được cho vào trong bộ dụng cụ để sử dụng cho bản thân, số ma túy đá còn lại trong túi nilon D1 giấu dưới giường trong phòng ngủ. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày thì có Nguyễn Tam V đến hỏi mua ma túy, V đưa cho D1 300.000 đồng tiền mặt, gồm 01 tờ tiền 100.000 đồng và 01 tờ tiền 200.000 đồng. D1 đã tự nguyện giao nộp 01 tờ tiền polymer mệnh giá 100.000 đồng và 01 tờ tiền polymer mệnh giá 200.000 đồng là 02 tờ tiền D1 bán ma túy cho V mà có.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T ra Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Tạ Duy H1, Nguyễn Tam V tại thôn Q, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình không phát hiện thu giữ gì khác. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Tiến D1 tại tổ dân phố H, thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình không phát hiện thu giữ gì.

Tại Bản kết luận giám định số 1834/KL-KTHS ngày 20/12/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận: Chất màu đen bám dính bên trong 01 ống thủy tinh trong suốt một đầu hình cầu có lỗ tròn gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, không xác định được khối lượng bám dính. Bản kết luận giám định số 1835/KL-KTHS ngày 20/12/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận: trong mẫu nước tiểu Mẫu số M1, Mẫu số M2, mẫu số M3 đều tìm thấy ma túy, sản phẩm chuyển hóa của ma túy, loại Methamphetamine.

Bản cáo trạng số 79/CT-VKSTT ngày 28/4/2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy đã truy tố Nguyễn Tiến D1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Nguyễn Tam V về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, h khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; Nguyễn Trung A, Tạ Duy H1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Về các vấn đề khác: Nguyễn Tiến D1 khai mua ma túy của một người đàn ông khoảng 40 tuổi tại khu vực tổ dân phố M, thị trấn D, huyện T nhưng D1 không biết tên, tuổi, địa chỉ, không nhớ đặc điểm nhận dạng của người đó nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra xử lý. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Tiến D1 và Nguyễn Cao K vào ngày 15/12/2024, Công an huyện T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 1, điều 23, Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.

Tại phiên toà, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến D1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; các bị cáo Nguyễn Tam V, Nguyễn Trung A, Tạ Duy H1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Đề nghị áp dụng hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Trung A và Nguyễn Tam V ngang nhau và cao hơn hình phạt áp dụng đối với Tạ Duy H1 và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm q khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến D1 07 năm 06 tháng tù đến 07 năm 09 tháng tù. Phạt bổ sung bị cáo từ 10 triệu đến 12 triệu đồng.

Áp dụng điểm b, h khoản 2, khoản 5 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 3 Điều 35; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Tam V từ 07 năm 09 tháng tù đến 08 năm tù. Phạt bổ sung bị cáo từ 5 triệu đến 7 triệu đồng.

Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 3 Điều 35; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Trung A 07 năm 09 tháng tù đến 08 năm tù. Phạt bổ sung bị cáo từ 5 triệu đến 7 triệu đồng.

Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 3 Điều 35; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Tạ Duy H1 từ 07 năm 06 tháng tù đến 07 năm 09 tháng tù. Phạt bổ sung bị cáo từ 5 triệu đến 7 triệu đồng.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu huỷ 01 hộp kim loại hình trụ màu vàng, đỏ dạng hộp bánh nhãn hiệu DANISH COOKIES; 01 túi nilon trong suốt; 02 chiếc bật lửa ga bằng nhựa màu đỏ trong đó 01 chiếc đầu ra ga gắn 01 ống có một đầu bằng kim loại, một đầu bằng nhựa; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế gồm 01 vỏ chai bằng nhựa trong suốt bên trong chứa nước, 01 nắp chai bằng nhựa màu xanh, mặt nắp có đục 02 lỗ trong đó 01 lỗ gắn 01 ống hút nhiều màu sắc; 01 ống thủy tinh trong suốt một đầu hình cầu có lỗ tròn. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 02 tờ tiền polime mệnh giá 100.000 đồng và 200.000 đồng.

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật và có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.

Các bị cáo không tranh luận đối với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo Nguyễn Trung A đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo vì bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bố bị cáo bị tàn tật không có khả năng nộp phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về quyết định tố tụng, hành vi tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Đối với hành vi mua bán trái phép chất ma túy ngày 15/12/2024 của bị cáo Nguyễn Tiến D1: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Tiến D1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình vào ngày 15/12/2024 như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ sau: Biên bản sự việc; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và Công an xã T lập ngày 15/12/2024; Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường lập ngày 15/12/2024; Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 16/12/2024 đối với Nguyễn Cao K, Tạ Duy H1, Nguyễn Trung A đều dương tính với chất ma túy; Phiếu xác định tình trạng nghiện ma túy của Bệnh viện T2 - Sở Y tế tỉnh T lập ngày 16/12/2024 xác định bị cáo không nghiện chất ma túy; Bản kết luận giám định số 1834/KL-KTHS và 1835/KL-KTHS ngày 20/12/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T xác định chất ma túy loại Methamphetamine; Bản kết luận giám định số 1888/KL-KTHS ngày 24/12/2024 kết luận 02 tờ tiền liên quan là tiền thật; Lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người chứng kiến. Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với các chứng cứ nêu trên.

Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Trưa ngày 15/12/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Nguyễn Tiến D1 đi bộ từ nhà D1 đến tổ dân phố M, thị trấn D, huyện T để tìm mua ma túy. Tại đây D1 gặp và mua được 01 túi ma túy đá với giá 300.000 đồng của một người đàn ông khoảng 40 tuổi, D1 không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này. D1 cầm túi ma túy vừa mua được đi về nhà, chế tạo bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá và lấy một phần ma túy đá vừa mua được cho vào trong bộ dụng cụ để sử dụng cho bản thân, số ma túy đá còn lại trong túi nilon D1 giấu dưới giường trong phòng ngủ. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, Nguyễn Tam V đến hỏi mua ma túy, V đưa cho D1 300.000 đồng tiền mặt, gồm 01 tờ tiền 100.000 đồng và 01 tờ tiền 200.000 đồng. D1 đã tự nguyện giao nộp 01 tờ tiền polymer mệnh giá 100.000 đồng và 01 tờ tiền polymer mệnh giá 200.000 đồng là 02 tờ tiền D1 bán ma túy cho V mà có.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Tiến D1 đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy:

......

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

q) Tái phạm nguy hiểm.

......

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

[3] Đối với hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy: Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Tam V, Nguyễn Trung A, Tạ Duy H1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình vào ngày 15/12/2024 như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau và phù hợp với toàn bộ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Hồi 16 giờ 30 phút ngày 15/12/2024, tại nhà ở của Tạ Duy H1 ở thôn Q, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; Tạ Duy H1, Nguyễn Trung A, Nguyễn Tam V đã có hành vi tổ chức cho Tạ Duy H1, Nguyễn Trung A, Nguyễn Cao K sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi của các bị cáo Nguyễn Tam V, Nguyễn Trung A, Tạ Duy H1 đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Điều 255. Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

......

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

b) Đối với 02 người trở lên;

h) Tái phạm nguy hiểm;

......

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

[4] Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về ma tuý, ảnh hưởng đến an ninh, trật tự công cộng và an toàn xã hội, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và vi phạm pháp luật khác.

Đối với hành vi “tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”, đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo không có sự phân công nhiệm vụ, vai trò cụ thể. Trong đó: Nguyễn Trung A là người khởi xướng, bàn bạc việc mua ma túy về sử dụng, cung cấp dụng cụ sử dụng ma túy, bỏ tiền mua ma tuý và cùng sử dụng ma túy nên giữ vai trò cao nhất trong vụ án; Tạ Duy H1 là người bàn bạc mua ma túy về sử dụng, chuẩn bị địa điểm, dụng cụ, chế biến ma túy và cùng mọi người sử dụng nên giữ vai trò thứ hai trong vụ án; Nguyễn Tam V khi được Nguyễn Trung A và Tạ Duy H1 nhờ mua ma tuý, biết rõ để sử dụng nhưng vẫn thực hiện nên là người cung cấp ma túy, giữ vai trò thứ ba trong vụ án.

Tuy nhiên, bị cáo Nguyễn Tam V bị áp dụng thêm tình tiết định khung tăng nặng “tái phạm nguy hiểm”, do đó khi quyết định hình phạt cần cân nhắc, áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Trung A và Nguyễn Tam V ngang nhau và cao hơn mức hình phạt đối với bị cáo Tạ Duy H1.

Đồng thời, cần áp dụng mức hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Trung A, Tạ Duy H1, Nguyễn Tam V cao hơn mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy đề nghị mới tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo.

[5] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy: Các bị cáo đều có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị kết án, bị xử lý hành chính nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội.

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Trung A phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[6] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy áp dụng mức hình phạt nghiêm minh, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Bị cáo Nguyễn Tiến D1 mua bán trái phép chất ma túy để kiếm lời; các bị cáo Nguyễn Trung A, Tạ Duy H1, Nguyễn Tam V đều đã bị kết án về các tội phạm ma túy. Do đó, cần áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với các bị cáo. Bị cáo Nguyễn Trung A, Tạ Duy H1, Nguyễn Tam V đều là lao động dự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng nên cần xem xét giảm cho các bị cáo một phần hình phạt tiền như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, có căn cứ.

[7] Về xử lý vật chứng: - 01 hộp kim loại hình trụ màu vàng, đỏ dạng hộp bánh nhãn hiệu DANISH COOKIES; 01 túi nilon trong suốt; 02 chiếc bật lửa ga bằng nhựa màu đỏ trong đó 01 chiếc đầu ra ga gắn 01 ống có một đầu bằng kim loại, một đầu bằng nhựa; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế gồm 01 vỏ chai bằng nhựa trong suốt bên trong chứa nước, 01 nắp chai bằng nhựa màu xanh, mặt nắp có đục 02 lỗ trong đó 01 lỗ gắn 01 ống hút nhiều màu sắc; 01 phong bì niêm phong hoàn trả mẫu vật giám định số 1834/KL-KTHS của Phòng K1 - Công an tỉnh T, đây là công cụ phạm tội không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.

- 02 tờ tiền loại polymer có mệnh giá 200.000 đồng và 100.000 đồng được niêm phong trong phong bì số 1888/KL-KTHS của Phòng K1 - Công an tỉnh T: Cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

[8]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến D1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; các bị cáo Nguyễn Tam V, Nguyễn Trung A, Tạ Duy H1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

  • - Áp dụng điểm q khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến D1 07 (bảy) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 16/12/2024.

    Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Tiến D1 10.000.000 (mười triệu) đồng sung ngân sách Nhà nước.

  • - Áp dụng điểm b, h khoản 2, khoản 5 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 58; khoản 3 Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Tam V 08 (tám) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 16/12/2024.

    Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Tam V 5.000.000 (năm triệu) đồng sung ngân sách Nhà nước.

  • - Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50; Điều 58; khoản 3 Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Trung A 08 (tám) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 16/12/2024.

    Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Trung A 5.000.000 (năm triệu) đồng sung ngân sách Nhà nước.

  • - Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 58; khoản 3 Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Tạ Duy H1 08 (tám) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 16/12/2024.

    Phạt bổ sung bị cáo Tạ Duy H1 5.000.000 (năm triệu) đồng sung ngân sách Nhà nước.

3. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu tiêu huỷ: 01 hộp kim loại hình trụ màu vàng, đỏ dạng hộp bánh nhãn hiệu DANISH COOKIES; 01 túi nilon trong suốt; 02 chiếc bật lửa ga bằng nhựa màu đỏ trong đó 01 chiếc đầu ra ga gắn 01 ống có một đầu bằng kim loại, một đầu bằng nhựa; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế gồm 01 vỏ chai bằng nhựa trong suốt bên trong chứa nước, 01 nắp chai bằng nhựa màu xanh, mặt nắp có đục 02 lỗ trong đó 01 lỗ gắn 01 ống hút nhiều màu sắc; 01 ống thủy tinh trong suốt một đầu hình cầu có lỗ tròn trong 01 phong bì niêm phong hoàn trả mẫu vật giám định số 1834/KL-KTHS của Phòng K1 - Công an tỉnh T.

  • - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 300.000 đồng được niêm phong trong phong bì số 1888/KL-KTHS của Phòng K1 - Công an tỉnh T.

(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng ngày 29/4/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Thái Thụy).

4. Về án phí:

Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, các bị cáo Nguyễn Tiến D1, Tạ Duy H1, Nguyễn Trung A, Nguyễn Tam V mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo Nguyễn Tiến D1, Tạ Duy H1, Nguyễn Trung A, Nguyễn Tam V có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 28/5/2025.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND huyện Thái Thụy;
  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình;
  • - Phân trại TGKV Thành phố;
  • - Phân trại TGKV Thái Thuỵ;
  • - PC 04 - Công an tỉnh;
  • - Chi cục THADS huyện Thái Thụy;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Huệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 79/2025/HS-ST ngày 28/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH về vụ án hình sự (criminal case)

  • Số bản án: 79/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger