TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 79/2025/HS-ST Ngày: 24-6-2025 |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH - TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Thiện Lợi.
- Bà Nguyễn Thị Thu Trang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Huế – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Lại Văn Thịnh – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 75/2025/HSST ngày 06 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn S, sinh ngày 06/01/1995 tại tỉnh Thái Bình;
Nơi cư trú: thôn T, xã H, huyện V, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị S1, có vợ là Vì Thị X, chưa có con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Nhân thân:
- - Bản án số 40 ngày 26/7/2016 của Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình xử 02 năm 03 tháng tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày 11/3/2016. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/01/2018; chấp hành xong án phí, hình phạt bổ sung ngày 13/9/2016.
- - Bản án số 121 ngày 25/4/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử 02 năm 03 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày 24/01/2019. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/02/2021; chấp hành xong án phí ngày 27/6/2019.
- - Quyết định số 16 ngày 08/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình về Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 01 năm 06 tháng. Chưa thi hành thì ngày 15/4/2025 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T khởi tố, bắt tạm giam về hành vi trộm cắp tài sản ngày 21/3/2025.
Bị bắt tạm giam từ ngày 15/4/2025 đến nay. Có mặt.
- Bị hại: ông Nguyễn Thế U, sinh năm 1956, trú tại thôn Đ, xã P, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1983 và chị Nguyễn Thị Y, sinh năm 1983 cùng trú tại thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1967, trú tại thôn T, xã H, huyện V, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có tiền chi tiêu cá nhân nên Nguyễn Văn S đã nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản của người khác để bán lấy tiền. Khoảng 11 giờ ngày 21/3/2025, S điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu đỏ đen, biển số đăng ký 17B2 - 406.08 (không có giấy phép lái xe) từ nhà lên thành phố T để trộm cắp tài sản. Trên đường đi, S lấy trong cốp xe 01 khẩu trang y tế màu trắng để che biển số xe tránh bị phát hiện. Khi đến khu vực thôn Đ, xã P, thành phố T, S phát hiện có 01 chiếc xe lôi (dạng tự chế) làm bằng kim loại sáng màu, có chiều cao 60 cm, thùng xe kích thước 200 x 90 x 20 cm được làm bằng tuýp tròn có đường kính 2,2 cm; đầu xe gắn thanh kim loại (dạng tuýp) dài 85 cm, đường kính 2,2 cm để làm tay kéo, trị giá 2.900.000 đồng của ông Nguyễn Thế U để ở vỉa hè trước cửa nhà ông U, không có ai trông coi. S dừng xe ở vệ đường đi bộ về phía chiếc xe lôi, dùng tay trái kéo chiếc xe lôi xuống lòng đường, tay phải điều khiển xe mô tô đi tìm chỗ để bán. Trên đường đi, S đã tháo khẩu trang che biển số xe máy vất đi. Khi đến bãi phế liệu của gia đình anh Nguyễn Văn T1 và chị Nguyễn Thị Y ở thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình, S nói với chị Y "Em có chiếc xe lôi muốn bán", sau khi kiểm tra xe, chị Y trả 500.000 đồng, S đồng ý bán. Số tiền này S đã chi tiêu cá nhân hết. Ngày 23/3/2025, ông Nguyễn Thế U lên Công an xã P trình báo vụ việc.
Kết luận định giá tài sản số 03 ngày 02/4/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận: trị giá chiếc xe lôi (dạng tự chế) được làm bằng kim loại sáng màu, đã qua sử dụng; thời điểm định giá ngày 21/3/2025 là 2.900.000 đồng
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận như trên. Lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều thể hiện như lời khai của bị cáo.
Tại bản cáo trạng số 79/CT-VKSTPTB ngày 05/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố Nguyễn Văn S về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/4/2025. Đề nghị không phạt bổ sung bị cáo. Đề nghị giải quyết về xử lý vật chứng và án phí. Bị cáo không có tranh luận gì. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và còn được chứng minh bằng: Biên bản xác định hiện trường; Sơ đồ hiện trường và Bản ảnh; Biên bản giao nhận đồ vật, tài sản; Kết luận định giá tài sản số 03 ngày 02/4/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Do không có tiền chi tiêu cá nhân, khoảng 11 giờ ngày 21/3/2025, tại vỉa hè trước cửa nhà ông Nguyễn Thế U, sinh năm 1957 thuộc thôn Đ, xã P, thành phố T, Nguyễn Văn S có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe lôi (dạng tự chế) của ông U trị giá 2.900.000 đồng.
- Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Điều 173. Tội trộm cắp tài sản quy định: “1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm” Vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, xâm phạm đến trật tự trị an xã hội và gây hoang mang cho quần chúng nhân dân trong việc quản lý tài sản. Bị cáo đã biết rõ việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện.
- Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo thì thấy: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là thành khẩn khai báo và phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn nên giảm cho bị cáo một phần hình phạt. Bị cáo có nhân thân xấu đã nhiều lần bị đưa ra xét xử và đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà lại tiếp tục phạm tội nên cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát mới có tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:
- [6.1] Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu đỏ đen, biển số đăng ký 17B2 - 406.08, qua tra cứu của ông Nguyễn Văn T - là bố bị cáo nên cần trả lại cho ông T.
- [6.2] Đối với 01 chiếc xe lôi (dạng tự chế) làm bằng kim loại sáng màu, có chiều cao 60 cm, thùng xe kích thước 200 x 90 x 20 cm được làm bằng tuýp tròn có đường kính 2,2 cm; đầu xe gắn thanh kim loại (dạng tuýp) dài 85 cm, đường kính 2,2 cm để làm tay kéo là của ông Nguyễn Thế U cần trả lại cho ông U.
- [6.3] Đối với 01 áo khoác gió màu đen, loại áo không có mũ liền; 01 quần vải màu xanh, ống dài; 01 mũ bảo hiểm, loại mũ nửa đầu màu đỏ đen bị cáo sử dụng đi trộm cắp tài sản, bị cáo không xin nhận lại nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với chị Nguyễn Thị Y khi mua chiếc xe lôi của S, chị Y không biết là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không có căn cứ xử lý đối với chị Y. Đối với số tiền chị Y bỏ ra mua xe lôi của bị cáo 500.000 đồng, chị Y không yêu cầu bị cáo trả lại nên không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Trộm cắp tài sản".
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 15/4/2025.
- Về xử lý vật chứng:
- 3.1 Trả lại cho ông Nguyễn Văn T 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu đỏ đen, biển số đăng ký 17B2 - 406.08.
- 3.2 Trả lại cho ông Nguyễn Thế U 01 chiếc xe lôi (dạng tự chế) làm bằng kim loại sáng màu, có chiều cao 60 cm, thùng xe kích thước 200 x 90 x 20 cm được làm bằng tuýp tròn có đường kính 2,2 cm; đầu xe gắn thanh kim loại (dạng tuýp) dài 85 cm, đường kính 2,2 cm để làm tay kéo.
- 3.3 Tịch thu tiêu huỷ 01 áo khoác gió màu đen, loại áo không có mũ liền; 01 quần vải màu xanh, ống dài; 01 mũ bảo hiểm, loại mũ nửa đầu màu đỏ đen đã thu của bị cáo.
- (Vật chứng có đặc điểm như trong Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh T và Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình ngày 09/6/2025).
- Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn S được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 24/6/2025. Ông Nguyễn Thế U được quyền kháng cáo bản án, ông Nguyễn Văn T, anh Nguyễn Văn T1 và chị Nguyễn Thị Y được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hương |
Bản án số 79/2025/HS-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH - TỈNH THÁI BÌNH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 79/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH - TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Do không có tiền chi tiêu cá nhân, khoảng 11 giờ ngày 21/3/2025, tại vỉa hè trước cửa nhà ông Nguyễn Thế U, sinh năm 1957 thuộc thôn Đ, xã P, thành phố T, Nguyễn Văn S có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe lôi (dạng tự chế) của ông U trị giá 2.900.000 đồng.
