|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT TỈNH LÂM ĐỒNG Bản án số: 79/2025/HS-ST Ngày: 15-4-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Thủy
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
Ông Nguyễn Minh Sơn
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Hoàng Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương - Kiểm sát viên
Ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân thành phố Đ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 61/TLST-HS ngày 25/2/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 98/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Jơr Lơng T; sinh ngày: 28/08/1998, tại: Lâm Đồng; nơi cư trú: thôn M, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 0/12; dân tộc: Chu Ru; giới tính: nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ya D, sinh năm: 1972 và bà Ma B, sinh năm: 1982, nơi cư trú: thôn M, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; vợ con: chưa có; tiền án: Tại Bản án số 12/2023/HS-ST ngày 21/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; nhân thân: Tại Bản án số 238/2024/HS-ST ngày 20/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 42 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” và “Trộm cắp tài sản” (bị cáo phạm tội ngày 02/8/2024); Tại Bản án số 17/2025/HS-ST ngày 16/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 18 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (bị cáo phạm tội ngày 02/8/2024); Đảng phái: không; bị cáo bị tạm giam từ ngày 02/8/2024 tại Phân trại tạm giam Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Phùng Thị Tố U, trợ giúp viên pháp lý Nhà nước tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
Bị hại: Bà Huỳnh Thị N, sinh năm 1955, nơi cư trú: số B đường L, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Jơr Lơng T là đối tượng không có việc làm, không có nơi ở ổn định, để có tiền để tiêu xài T nảy sinh ý định tìm kiếm tài sản để trộm cắp. Vào khoảng 09 giờ 00 ngày 02/8/2024, T điều khiến xe mô tô hiệu Honda Wave, màu xanh, biển số 49H1-128.74 đến quán cơm N tại địa chỉ số A đường K, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Khi vào quán, T thấy trên bàn có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen nên T nói dối với chủ quán là bà Huỳnh Thị N đặt mua 10 hộp cơm và hẹn 30 phút sau quay lại lấy thì bà N yêu cầu T đặt cọc 100.000đ. Lợi dụng lúc chủ quán và những người xung quanh không chú ý, T lấy chiếc điện thoại trên của bà N bỏ vào túi quần rồi rời đi. Sau khi lấy được điện thoại, T điều khiển xe mô tô về huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng, đến xã H thì T bị Công an bắt giữ
Tại Kết luận định giá số 187/KL-HĐĐGTS ngày 21/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đ kết luận: 01 (một) điện thoại di động OPPO A96, màu đen, bộ nhớ 128GB, đã qua sử dụng có giá trị là 2.300.000₫.
Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A96, màu đen, đã qua sử dụng; 100.000đ (một trăm ngàn đồng).
Bị hại bà Huỳnh Thị N xác định bị chiếm đoạt 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A96, màu đen. Bà đã nhận lại chiếc điện thoại trên nên không có yêu cầu bồi thường gì.
Tại Bản Cáo trạng số 65/CT-VKSÐL-LĐ ngày 21/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt truy tố bị cáo Jơr Lơng T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
Bị cáo khai nhận ngày 02/8/2024, bị cáo đã trộm cắp 01 (một) điện thoại di động OPPO A96, màu đen có giá trị là 2.300.000đ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo Jơr Lơng T về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Jơr Long T1 từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự để tổng hợp với hình phạt của Bản án số 238/2024/HS-ST ngày 20/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng và Bản án số 17/2025/HS-ST ngày 16/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 41, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 100.000đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ quá trình thực hiện hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại, biên bản xác định hiện trường, biên bản tạm giữ tang vật, vật chứng và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở kết luận: bị cáo là thanh niên có sức khỏe, muốn có tiền tiêu xài cá nhân nhưng lười lao động. Ngày 02/8/2024, bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu để chiếm đoạt 01 (một) điện thoại di động OPPO A96, màu đen có giá trị 2.300.000đ. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi hành vi đó đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
[3] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo đã bị Tòa án xử phạt về tội Trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội nên thuộc trường hợp tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần phạm tội, bị Tòa án kết án.
Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử nhận thấy cần có mức án nghiêm minh, tương xứng, phù hợp với hành vi bị cáo gây ra, nhất thiết cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian, như vậy mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này.
[4] Xử lý vật chứng: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A96, màu đen, đã qua sử dụng, Cơ quan Cảnhsát điều tra Công an thành phố Đ đã trả cho bị hại. Đối với số tiền 100.000đ đây là phương tiện phạm tội mà có nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
[5] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Jơr Lơng T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, 56 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Jơr Lơng T 18 (mười tám) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 42 (bốn mươi hai) tháng tù về tội "Cướp giật tài sản" và tội "Trộm cắp tài sản" theo Bản án số 238/2024/HS-ST ngày 20/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng và hình phạt 18 (mười tám) tháng tù về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo Bản án số 17/2025/HS-ST ngày 16/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng. Buộc bị cáo Jơr Lơng T phải chấp hành hình phạt chung là 6 (sáu) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/8/2024.
- Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 41, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự
Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 100.000đ (một trăm ngàn đồng) (Theo giấy giao nộp tiền ngày 21/02/2025 vào tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt tại Ngân hàng N1 – Chi nhánh thành phố Đ).
- Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Jơr Lơng T phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Riêng các bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Thanh Thủy |
Bản án số 79/2025/HS-ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 79/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
