Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 79/2025/HS-PT

Ngày: 23 - 6 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Chu Tuấn Vương
  • - Các Thẩm phán:
    1. Bà Nguyễn Thị Kim Hằng
    2. Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thuý Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 100/2025/TLPT-HS ngày 06 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo Đỗ Ngọc H đối với bản án hình sự sơ thẩm số 29/2025/HS-ST ngày 27 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.

* Bị cáo có kháng cáo:

Đỗ Ngọc H, sinh năm 1951; Giới tính: Nam; Nơi thường trú: thôn H, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/10; Con ông: Đỗ Duy N (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị T (đã chết); Vợ: Nguyễn Thị T1; Có 02 con; Tiền án: Không; Tiền sự: 01. Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 177/QĐ-XPHC ngày 26/01/2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ xử phạt Đỗ Ngọc H 10.000.000 đồng về hành vi dùng nhà của mình để chứa chấp việc đánh bạc, H chưa nộp phạt; Nhân thân: Đỗ Ngọc H có thời gian tham gia hoạt động kháng chiến từ năm 1970 đến năm 1976, là thương binh loại A, thương tật hạng 41%. Bản án số 15/1983/HSST ngày 23/3/1983 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình xử phạt Đỗ Ngọc H 01 năm tù cho hưởng

án treo về tội Trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa. Quyết định số 7112/QĐ-XPHC ngày 07/10/2015, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Bình, xử phạt vi phạm hành chính số tiền 5.000.000 đồng về hành vi dùng nhà ở của mình để chứa bạc; tịch thu xung công quỹ nhà nước 300.000 đồng, H đã chấp hành xong ngày 15/10/2015. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 08/01/2025. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Vụ án còn có bị cáo Trần Đình B và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không bị kháng nghị nên Toà án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 16/12/2024, Nguyễn Trung H1 đến nhà Đỗ Ngọc H cùng thôn chơi. Sau đó, H1 và H cùng rủ nhau đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh "phỏm". Bộ bài tú lơ khơ có sẵn tại mặt tủ nhà H. H và H1 chơi được một lúc thì lần lượt có Trần Đình B và Nguyễn Khánh H2 đến và tham gia đánh bạc cùng. Quy định cách chơi và mức độ thắng thua như sau: Bộ bài tú lơ khơ 52 quân được chia đều cho mỗi người chơi 09 lá bài, riêng người cầm cái (người đánh đầu tiên) được chia 10 lá bài. Tất cả các lá bài còn lại gọi là "bài lọc" và để giữa chiếu bạc. Người cầm cái sẽ đánh 01 lá bài, người tiếp theo sẽ ăn lá bài nếu trên bài có các lá bài tạo thành phỏm. Phỏm là bộ gồm 03 lá bài trở lên có cùng chất và số liên tiếp với nhau hoặc bộ 03 lá bài có cùng số. Nếu không ăn thì người chơi phải bốc một lá bài ở "bài lọc" sau đó đánh cho người kế tiếp một lá bài bất kì. Cứ tiếp tục như vậy cho đến khi có một người chơi ù hoặc khi bốc hết bài trong "bài lọc". “Ù” là khi tất cả các lá bài của người chơi đều tạo thành các phỏm. Nếu không có ai ù thì khi kết thúc ván bài, người chơi sẽ hạ xuống các phỏm, các lá bài còn lại sẽ tính điểm. Q bài "K" tương ứng 13 điểm, quân bài "Q" tương tứng 12 điềm, quân bài "J" tương ứng 11 điểm, quân bài "A" tương ứng 01 điểm, còn các quân bài từ 02 đến 10 sẽ tương ứng số điểm. Người nào có điểm ít nhất sẽ về nhất, lần lượt số điểm lớn hơn sẽ về nhì, ba và bét. Người nào không có phỏm sẽ bị cháy. Quy định tiền cược như sau: nếu có người “ù” thì những người còn lại phải trả cho người này 50.000 đồng; nếu không có ai “ù” thì sẽ tính điểm, ai ít điểm nhất sẽ về nhất và những người ít điểm thứ hai, ba, tư phải trả cho người về nhất tương ứng số tiền 10.000 đồng, 20.000 đồng, 30.000 đồng; nếu người nào “cháy” thì phải trả cho người về nhất 40.000 đồng. Ngoài ra không có quy định gì khác. H, B, H1, H2 đánh bạc đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày thì bị tổ công tác Công an xã H, huyện Đ kiểm tra, phát hiện. Tổ công tác đã lập biên bản vụ việc quản lý tại vị trí đánh bạc số tiền 550.000 đồng, 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân. Kiểm tra người các đối tượng

đánh bạc quản lý của Nguyễn Khánh H2 5.000.000 đồng tại túi quần phía sau bên phải và 710.000 đồng tại túi áo ngực bên phải; của Nguyễn Trung H1 300.000 đồng tại túi quần phía trước bên phải; của Đỗ Ngọc H 200.000 đồng tại túi quần trước bên phải.

Quá trình điều tra, các đối tượng khai nhận:

  • + Nguyễn Khánh H2 mang theo 5.720.000 đồng, sử dụng 720.000 đồng để đánh bạc. Tại thời điểm cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang, H2 đang thua 10.000 đồng, số tiền 710.000 đồng còn lại H2 cất tại túi áo ngực bên phải. Đối với số tiền 5.000.000 đồng để tại túi quần phía sau bên phải là tiền H2 để làm đường vào mộ cho bố, không sử dụng để đánh bạc.
  • + Đỗ Ngọc H khi tham gia đánh bạc trong người Hoàn có 450.000 đồng và sử dụng hết số tiền này để đánh bạc. H bỏ ra 250.000 đồng chơi trước, còn 200.000 đồng để trong túi quần trước bên phải. Tại thời điểm cơ quan Công an kiểm tra phát hiện bắt quả tang, H đang hòa, số tiền 250.000 đồng để dưới chiếu bạc.
  • + Nguyễn Trung H1 mang theo 300.000 đồng và sử dụng hết số tiền này để đánh bạc, khi bị cơ quan công an phát hiện bắt quả tang, H1 đang thắng 150.000 đồng, số tiền này H1 để dưới chiếu bạc. Từ lúc bắt đầu chơi đến lúc cơ quan Công an đến kiểm tra, H1 chưa thua nên số tiền 300.000 đồng vẫn để trong túi quần phía trước bên phải.
  • + Trần Đình B mang theo 160.000 đồng và sử dụng hết số tiền này để đánh bạc, khi bị cơ quan công an phát hiện bắt quả tang, B đang hòa, số tiền này B để dưới chiếu bạc.

Như vậy tổng số tiền các các đối tượng đánh bạc khai sử dụng vào việc đánh bạc là: 1.630.000 đồng, tuy nhiên khi bắt quả tang số tiền thu trên chiếu bạc và số tiền quản lý trên người các đối tượng khai sử dụng để đánh bạc là 1.760.000 đồng, các đối tượng đánh bạc đều xác định số tiền này là tiền của các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc nên phải chịu trách nhiệm về số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là: 1.760.000 đồng.

Quá trình đánh bạc không có người thu tiền hồ, cầm cố tài sản, canh coi, cảnh giới.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 29/2025/HS-ST ngày 27/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình đã quyết định:

  1. Tuyên bố: Các bị cáo Đỗ Ngọc H và Trần Đình B phạm tội “Đánh bạc”
  2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s, o, x khoản 1 Điều 51; khoản 3 Điều 35; Điều 17; Điều 58; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự

Xử phạt bị cáo Đỗ Ngọc H 07 (bẩy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án.

Phạt bổ sung bị cáo H 7.000.000 đồng để nộp ngân sách nhà nước.

Ngoài ra, toà án cấp sơ thẩm còn quyết định về vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Đỗ Ngọc H kháng cáo phần hình phạt trong bản án, xin được hưởng án treo.

Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo là xin được hưởng án treo. Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm đã kết luận. Tuy nhiên do bị cáo tuổi đã cao, thường xuyên ốm đau, bị cáo là thương binh, được tặng huy chương kháng chiến nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình sau khi phân tích toàn bộ nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân cũng như nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Ngọc H, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 29/2025/HS-ST ngày 27/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình đối với bị cáo.

Bị cáo không có tranh luận gì.

Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Toà án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo để bị cáo được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định là hợp lệ nên được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo Đỗ Ngọc H:

[2.1] Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Trong khoảng thời gian từ 15 giờ đến 15 giờ 30 phút ngày 16/12/2024, tại nhà của Đỗ Ngọc H ở thôn H, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Bình, Đỗ Ngọc H, Trần Đình B, Nguyễn Khánh H2, Nguyễn Trung H1 cùng nhau thực hiện hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức đánh “phỏm”, thì bị Công an xã H phát hiện, thu giữ trên chiếu bạc và trên người các đối tượng tổng số tiền sử dụng đánh bạc là 1.760.000 đồng. Số tiền H

và B cùng các đối tượng sử dụng đánh bạc dưới 5.000.000 đồng, nhưng Đỗ Ngọc H đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Dùng nhà của mình để chứa chấp việc đánh bạc; Trần Đình B đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc, đều chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính. Vì vậy H và B phạm tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Hành vi của các bị cáo Đỗ Ngọc H và Trần Đình B phạm tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo thì thấy: Cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo: sau khi phạm tội các bị cáo đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, bị cáo H tính đến thời điểm thực hiện hành vi phạm tội đã trên 70 tuổi, bị cáo có thời gian tham gia hoạt động kháng chiến và được cấp Giấy chứng nhận thương binh loại A nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, o, x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, bị cáo là người có nhân thân xấu. Bị cáo đã một lần bị xét xử về tội Trộm cắp tài sản của công dân và một lần bị xử phạt hành chính về hành vi dùng nhà ở của mình để chứa bạc. Ngoài ra, ngày 26/01/2024 bị cáo bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ xử phạt Đỗ Ngọc H 10.000.000 đồng về hành vi dùng nhà của mình để chứa chấp việc đánh bạc theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 177/QĐ-XPHC, bị cáo chưa nộp phạt. Điều này thể hiện ý thức của bị cáo không chấp hành pháp luật. Vì vậy, căn cứ Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 bị cáo không đủ điều kiện được hưởng án treo. Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo xuất trình Bệnh án tâm thần đề ngày 13/4/2010 của Bệnh viện tâm thần – Sở Y thể hiện bị cáo bị bệnh rối loại giấc ngủ và rối loạn tâm thần; xuất trình giấy chứng nhận số 56 ngày 05/6/2010 của UBND xã B chứng nhận bị cáo bị rối loạn tâm thần. Tuy nhiên, đây không phải là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tại giai đoạn phúc thẩm không phát sinh tình tiết mới làm thay đổi nội dung vụ án. Vì vậy, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

[4] Về án phí: Kháng cáo của bị cáo Đỗ Ngọc H không được chấp nhận tuy nhiên bị cáo thuộc diện được miễn án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự:

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Ngọc H, giữ nguyên bản án hình sự

sơ thẩm 29/2025/HS-ST ngày 27/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình đối với bị cáo Đỗ Ngọc H. Cụ thể:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Ngọc H phạm tội “Đánh bạc”
  2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s, o, x khoản 1 Điều 51; khoản 3 Điều 35; Điều 17; Điều 58; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự

Xử phạt bị cáo Đỗ Ngọc H 07 (bẩy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án.

Phạt bổ sung bị cáo H 7.000.000 đồng để nộp ngân sách nhà nước.

  1. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự phúc thẩm cho bị cáo Đỗ Ngọc H.
  2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Toà án và VKS huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Đông Hưng, tỉnh Thái Bình;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thái Bình;
  • - Lưu hồ sơ vụ án; VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Chu Tuấn Vương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 79/2025/HS-PT ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về hình sự (đánh bạc)

  • Số bản án: 79/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Đỗ Ngọc H phạm tội “Đánh bạc”
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger