|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 79/2025/HS-PT |
Ngày: 17/02/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Thành Trung
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Ngọc Huân
Bà Trần Thị Lê Na
- Thư ký phiên tòa: Mai Thị Phương Anh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Duyên - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 02 năm 2025, tại Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 1198/2024/TLPT-HS ngày 31 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Xuân T do có kháng cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 250/2024/HSST ngày 21/11/2024 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.
Bị cáo kháng cáo: Nguyễn Xuân T1; Sinh năm 1994. Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; tại Hải Dương; Nơi thường trú: Thôn P, xã P, huyện N, tỉnh Hải Dương; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông: Nguyễn Văn B, sinh năm 1965; Con bà: Nguyễn Thị L, sinh năm 1965; Vợ là Khuất Thị T2, sinh năm 1988, có 02 con lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2023. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ ngày 15/5/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Anh Ngô Trung K, sinh năm 1986. Nơi thường trú: Khu D, phường Y, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Nơi ở hiện tại: Phòng 606, T, phố T, phường D, quận C, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Xuân T1 có quen biết với anh Ngô Trung K (sinh năm: 1986; HKTT: Khu D, Y, Q, Quảng Ninh) và thường xuyên qua chơi nhà anh K tại Phòng 606, T T, phường D, quận C, thành phố Hà Nội nên được biết mật khẩu khóa cửa. Quá trình đến nhà anh K, T1 biết anh K có 02 đồng hồ đeo tay có giá trị lớn, được để trong hộp đựng đồng hồ và để trên tủ gỗ ở bên trái phòng theo hướng cửa nhìn vào, cuối tuần anh K thường về quê. Đến đầu tháng 5/2024, do cần tiền để trả nợ nên T1 nảy sinh ý định đến nhà anh K lấy trộm đồng hồ mang bán lấy tiền. Đến khoảng 00 giờ 50 phút ngày 05/5/2024, T1 mặc áo chống nắng, đeo khẩu trang, mặc quần dài, điều khiển xe máy Winer màu xanh, BKS: 34B4-58848 đi từ chỗ trọ đến sảnh tòa nhà The Park H số 1 T dựng xe ở gần lối vào sảnh, đi cầu thang bộ lên tầng 6 của tòa nhà, đi đến cửa phòng 606 bấm mật khẩu mở cửa vào nhà anh K. Quan sát trong nhà không có người, T1 đi đến chỗ để đồng hồ, mở hộp đựng, lấy chiếc đồng hồ Rolex Datejust 126234 dây bạc, mặt xanh, cất vào túi quần bên phải và đi xuống dưới lấy xe máy đi về phòng trọ. Sau đó, T1 lên mạng xã hội tìm được cửa hàng mua bán đồng hồ Gold time W, địa chỉ: số G T, quận T, thành phố Hà Nội. Khoảng 15 giờ ngày 06/5/2024, T1 đến cửa hàng W gặp anh Vũ Duy K1, sinh năm: 1991; HKTT: Thôn G, xã H, huyện K, tỉnh Hải Dương) để bán chiếc đồng hồ trên. Anh K1 kiểm tra đồng hồ, thấy là hãng chính hãng nên hỏi T1 về hộp và giấy tờ của đồng hồ và T1 nói có để ở nhà nhưng không nhớ, T1 sẽ về nhà tìm, thấy sẽ mang đến đưa cho anh K1. Anh K1 thỏa thuận mua chiếc đồng hồ của T1 với giá 180.000.000 đồng. Sau đó, T1 gọi điện thoại cho anh Đồng Văn K2 (SN: 1992; HKTT: Thôn P, xã P, huyện N, tỉnh Hải Dương) để nhờ nhận chuyển khoản từ anh K1. Đến ngày 06/5/2024 và ngày 07/5/2024, T1 nhờ anh K2 chuyển khoản trả nợ hết số tiền 180.000.000 đồng. Đến ngày 12/5/2024, anh K phát hiện bị mất trộm đồng hồ Rolex Datejust 126234 nên đã trình báo lên Cơ quan công an. Ngày 14/5/2024, T1 được Công an phường D mời về trụ sở làm việc. Tại đây, T1 xin đầu thú về hành vi phạm tội của mình.
Cơ quan điều tra đã tạm giữ của anh Vũ Duy K1: 01 chiếc đồng hồ Rolex Datejust 126234 dây bạc, mặt xanh, số seri: 01HW1826; tạm giữ số tiền 180.000.000 đồng do bà Nguyễn Thị L mẹ đẻ của Nguyễn Xuân T1 giao nộp để khắc phục hậu quả.
Kết luận định giá tài sản số 185/KL-HĐĐGTS ngày 15/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận C kết luận: 01 đồng hồ Rolex Datejust 126234 mặt màu xanh, seri 01HW1826 có giá 226.100.000 đồng (bút lục số 52-55).
Kết quả kiểm tra camera ngày 14/5/2024 tại tòa nhà T phát hiện hồi 01 giờ 05 phút ngày 05/5/2024, có một đối tượng nam giới mặc áo chống nắng kẻ caro, đeo khẩu trang, đi giày thể thao, quần dài tối màu đi bộ từ hành lang vào phòng 606 của tòa nhà trong khoảng thời gian 01 phút rồi đi ra. T1 xác nhận đó chính là T1 (bút lục số 25).
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Xuân T1 khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lời khai của Nguyễn Xuân T1, phù hợp với kết quả kiểm tra camera, kết luận định giá tài sản, lời khai của bị hại, những người có liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Đối với việc anh Vũ Duy K1 mua đồng hồ nhưng không biết đó là tài sản do T1 trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Đối với việc anh Đồng Văn K2 nhận tiền chuyển khoản từ anh Vũ Duy K1. Anh K2 đồng ý nhận tiền chuyển khoản do T1 nhờ nhận và chuyển tiền hộ, anh K2 không biết số tiền anh nhận chuyển khoản là tiền do T1 phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Đối với chiếc đồng hồ Rolex Datejust 126234 dây bạc, mặt xanh, quá trình điều tra xác định chiếc đồng hồ trên là tài sản của anh Ngô Trung K. Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc đồng hồ trên cho anh Ngô Trung K. Anh K đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì về dân sự.
Đối với số tiền 180.000.000 đồng bà Nguyễn Thị L giao nộp, Cơ quan điều tra đã trao trả lại số tiền trên cho anh Vũ Duy K1. Anh K1 đã nhận lại số tiền trên và không có yêu cầu, đề nghị gì về dân sự.
Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 250/2024/HSST ngày 21/11/2024 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân T1 7 (Bảy) năm 3 (Ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 14 tháng 5 năm 2024.
Ngoài ra bản án còn tuyên về vật chứng, án phí, quyền kháng cáo.
Ngày 03/12/2024 bị cáo Nguyễn Xuân T1 có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội sau khi đánh giá tính chất mức độ hậu quả hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b Khoản 1 Điều 355, Điều điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Sửa bản án sơ thẩm số 250/2024/HSST ngày 21/11/2024 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015; Phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân T1 05 - 06 năm tù.
Lời nói sau cùng của bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hình thức kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo đúng về mặt chủ thể kháng cáo và trong thời hạn của luật định nên được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo trình bày lời khai như đã trình bày tại cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Ngày 05/5/2024, Nguyễn Xuân T1 đã có hành vi lén lút chiếm đoạn 01 chiếc đồng hồ Rolex Datejust 126234 dây bạc, mặt xanh, giá trị 226.100.000 đồng của anh Ngô Trung K tại phòng 606, chung cư T T, phường D, quận C, thành phố Hà Nội.
Với hành vi như trên, bị cáo Nguyễn Xuân T1 bị Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy tuyên bố phạm tội trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của anh Ngô Trung K được pháp luật bảo vệ.
Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã tác động đến gia đình để tự nguyện khắc phục hậu quả; Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự và bị cáo đầu thú. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự, căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, bị cáo có nhân thân tốt, đã khắc phục hậu quả, thành khẩn khai báo, bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo có phần nghiêm khắc. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Xuân T1. Sửa Bản án số 250/2024/HSST ngày 21/11/2024 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Xuân T1.
[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ Điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Xuân T1.
Sửa Bản án số 250/2024/HSST ngày 21/11/2024 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 173; điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân T1 06 (Sáu) năm 09 (C) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/5/2024.
-
Án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 2 điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:
Bị cáo Nguyễn Xuân T1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
-
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Trương Thành Trung |
Bản án số 79/2025/HS-PT ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 79/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Xuân T - Điều 173
