Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2025/HS-PT

Ngày: 06/6/2025

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Từ

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hải Minh, bà Lưu Thị Hồng Thể

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lệ Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hà - Kiểm sát viên.

Trong ngày 06/6/2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 65/2025/TLPT-HS ngày 29/4/2025 đối với bị cáo Nguyễn Văn L do có kháng cáo bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2025/HS-ST ngày 28/02/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Văn L, sinh năm 2003, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: thôn A, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Thị H (đã chết); Vợ, con: chưa có; Tiền án, Tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/11/2024 đến ngày 24/11/2024 được tại ngoại. Có mặt.

Ngoài ra, còn có bị hại anh Nguyễn Thành T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Dương Xuân T1 không có kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ khoảng tháng 08/2023, Nguyễn Văn L làm nghề giao hàng tại cơ sở giao hàng “Ship Thành T2”, địa chỉ: Số B, đường P, TP ., Nghệ An do anh Dương Xuân T1, sinh năm 1997, trú tại xóm P, xã H, TP V (Là chủ cơ sở) và được anh T1 giao sử dụng 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu đen, số IMEI 1: 35290113241247, IMEI 2: 35290111324124, có số thuê bao “0888433737”, đã qua sử dụng để lên đơn và phân phối đơn hàng. Trong thời gian này, Luật nhiều lần vay tiền của anh Nguyễn Sỹ H1, sinh năm 2003, trú tại xóm F, xã T, huyện T, Nghệ An để chi tiêu cá nhân.

Đến khoảng 11 giờ 30 phút ngày 14/11/2024, do không có khả năng trả nợ và liên tục bị anh H1 hối thúc yêu cầu trả lại tiền nên Luật nảy sinh ý định lừa anh Nguyễn Thành T, sinh năm 1994, trú tại thôn A, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh (Là chủ cơ sở giao hàng “Thành Trung”) để chiếm đoạt tiền của anh T nhằm mục đích trả nợ cho anh H1. Tại thời điểm này, thực tế không có khách hàng nào cần chuyển khoản tiền nhưng do thiếu tiền, L đã sử dụng chiếc điện thoại di động đã được giao rồi vào ứng dụng M đã được đăng nhập tài khoản Facebook có tên hiển thị “Ship Thành T2” (Tài khoản Facebook của cơ sở giao hàng) nhắn tin đến tài khoản Facebook có tên hiển thị “T3 Trung'g” (do anh T sử dụng) nói rằng có khách hàng đang cần nhận tiền chuyển khoản với số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) và gặp khách hàng nhận lại tiền mặt tại khu vực gần thị trấn Q, huyện N, Nghệ An thì anh T đồng ý và thống nhất chi phí nhận, chuyển tiền là 350.000 đồng (Ba trăm năm mươi nghìn đồng). Do Luật thường sử dụng tài khoản Facebook "Ship Thành T2” để nhắn tin với anh T nên anh T biết người nhắn tin là Luật. Ngay sau đó, Luật tự tạo mới 01 (Một) tài khoản Facebook có tên hiển thị “Nguyễn Tuấn G” rồi tự nhắn tin vào tài khoản Facebook của Luật có tên hiển thị “LUẬT BÉ”, gửi định vị Trung tâm hội nghị sự kiện Trường L1 tại xã N, N, Nghệ An. Sau đó, Luật chụp lại màn hình điện thoại gửi cho anh T để tạo lòng tin. Sau khi nhận được tin nhắn, anh T đồng ý và nói anh Nguyễn Gia K, sinh năm 2001, trú tại thôn A, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh đi gặp khách hàng lấy tiền mặt. Khi biết được người đi lấy tiền là anh K, L sử dụng tài khoản Facebook “Ship Thành T2” nhắn tin đến tài khoản Facebook có tên hiển thị “Hoàng C” của anh Hoàng Việt C, sinh năm 2006, trú tại xóm B, xã Q, huyện Q, Nghệ An (là nhân viên giao hàng cùng với Luật) nói anh C cung cấp số tài khoản ngân hàng để một người bạn chuyển tiền đến và thoả thuận sẽ trả phí cho anh C. Sau khi anh C cung cấp số tài khoản ngân hàng cho Luật, L đã gửi số tài khoản ngân hàng của C (tài khoản ngân hàng số “0964787769”, mở tại ngân hàng V, mang tên “HOANG VIET CUONG”) cho anh T. Tiếp đó, Luật sử dụng tài khoản Facebook “Ship Thành T2” gọi điện cho tài khoản Facebook của anh K có tên hiển thị “Nguyễn Gia K” để lừa anh K là đã cầm tiền mặt từ khách hàng, nói anh K trao đổi với anh Trung chuyển K1 tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) cho khách và đến gặp Luật để lấy tiền mặt. Vì bản thân Luật, anh T, anh K quen biết nhau từ lâu nên anh K tin tưởng và liên lạc cho anh T thông báo đã nhận đủ tiền từ khách hàng. Lúc này, anh T sử dụng số tài khoản “9976833968”, ngân hàng V1, mang tên NGUYEN THANH TRUNG chuyển số tiền 29.650.000 đồng (Hai mươi chín triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng) đến tài khoản số “0964787769”, ngân hàng V, mang tên HOANG VIET CUONG (Đã trừ số tiền 350.000 đồng tiền phí chuyển tiền như đã thoả thuận).

Sau khi Hoàng Việt C đã nhận được tiền, Luật nhắn tin cho C nhờ C chuyển khoản toàn bộ số tiền vừa nhận được đến tài khoản ngân hàng của anh H1 có số tài khoản “102878190930”, ngân hàng V2, mang tên NGUYEN SY HUNG để trả nợ. Sau khi gặp Luật, anh K liên tục yêu cầu Luật đưa tiền mặt trả cho anh T nhưng L đưa ra nhiều lý do để trì hoãn. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, do chưa thấy anh K đưa tiền về nên anh T đã liên lạc với K mới biết được là anh K bị Luật lừa, hiện chưa nhận được tiền. Sau đó, anh T đến gặp Luật ở khu vực đường P, phường H, TP .. Tại đây, Nguyễn Văn L thừa nhận với anh T và anh K về việc đã đưa ra thông tin gian dối để lừa anh T nhằm chiếm đoạt số tiền trên. Nguyễn Văn L đã sử dụng toàn bộ số tiền chiếm đoạt được để trả nợ cho anh Nguyễn Sỹ H1.

Ngày 15/11/2024, anh Nguyễn Thành T đến trụ sở Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T6 trình báo về nội dung sự việc nêu trên.

Cùng ngày 15/11/2024, biết được cơ quan Công an đang điều tra và nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên Nguyễn Văn L đã đến trụ sở Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T6 đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2025/HS-ST ngày 28/02/2025, Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An đã quyết định: Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 15/11/2024 đến ngày 24/11/2024.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 04/3/2025, bị cáo Nguyễn Văn L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn L rút kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, giữ nguyên kháng cáo xin hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357, Điều 342 Bộ luật tố tụng hình sự: Đình chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn L, sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt tù và cho bị cáo hưởng án treo.

Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng.

Bị cáo không tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo, cho bị cáo hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn L, thấy rằng: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Bản án sơ thẩm đã nhận xét, đánh giá. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ để khẳng định: Vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 14/11/2024, tại số B, đường P, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Nguyễn Văn L đã có hành vi gian dối dùng điện thoại tạo nội dung không có thật qua ứng dụng Messenger có nhận chuyển khoản tiền cho khách hàng lấy phí để chiếm đoạt số tiền 29.650.000 đồng (Hai mươi chín triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng) của anh Nguyễn Thành T. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Văn L về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Văn L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo rút kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Xét thấy, việc rút kháng cáo của bị cáo là tự nguyện, không liên quan đến kháng cáo khác nên được chấp nhận. Căn cứ khoản 3 Điều 342 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử đình chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.

[3] Xét nội dung kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Văn L, thấy rằng: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng; có các tình tiết giảm nhẹ: phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội đã ra đầu thú và tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại; quá trình điều tra và tại phiên tòa, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; số tiền bị cáo phạm tội không lớn. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo 06 tháng tù là có căn cứ. Tại cấp phúc thẩm bị cáo xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ mới được bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương quản lý, giáo dục cũng đủ nghiêm. Do đó, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt tù và cho bị cáo được hưởng án treo để thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật đối với người đã biết ăn năn hối cải như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An là có căn cứ pháp luật.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[5] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn L được chấp nhận kháng cáo nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357, Điều 342 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • - Đình chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn L.
  • - Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn L, sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt tù và cho bị cáo hưởng án treo.

Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Văn L cho UBND xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự năm 2019.

2. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

- VKSND tỉnh Nghệ An;

- TAND, VKSND TP Vinh;

- Chi cục THADS TP Vinh;

- Công an TP Vinh;

- Sở Tư pháp Nghệ An;

- UBND xã Sơn Trà, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh

- Bị cáo;

- Lưu Hsơ, Toà hsự, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Thu Từ

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

CÁC THẨM PHÁN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hải Minh

Lưu Thị Hồng Thể

Nguyễn Thị Thu Từ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 79/2025/HS-PT ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 79/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn L - Lừa đảo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger