|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 79/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 30 - 06 - 2025.
V/v: “T/c ly hôn, nuôi con chung”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM - TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
-
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đào Duy Mạnh.
-
Các hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Quang Hoạch và ông Đinh Ngọc Hùng.
-
Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Hà – Thư ký Toà án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
-
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên toà: Nguyễn Thị Lan Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 06 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 229/2025/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2025, về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 05 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 59/2025/QÐST-HNGĐ ngày 12 tháng 06 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Ngô Thị Xuân M, sinh năm 1994. Căn cước công dân số: [...]. Nơi đăng ký cư trú: ấp Q, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Hiện cư trú tại: Số A, ấp L, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Anh Trần T, sinh năm 1996. Căn cước công dân số: [...]. Nơi đăng ký cư trú: ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Hiện cư trú tại: Số A, ấp L, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
(Chị M đề nghị xét xử vắng mặt, anh T vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình chuẩn bị xét xử, nguyên đơn chị Ngô Thị Xuân M trình bày:
Chị Ngô Thị Xuân M và anh Trần T tự nguyện chung sống vợ chồng có đăng ký kết hôn và được UBND xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 35 ngày 16/09/2020.
Cuộc sống chung của chị M và anh T không hạnh phúc, nguyên nhân do bất
đồng quan điểm, vợ chồng không thấu hiểu nhau, xung khắc về nhiều mặt. Anh T thiếu sự quan tâm chăm sóc tới gia đình, con cái nên vợ chồng thường hay xảy ra mâu thuẫn, cãi vã. Vào tháng 5/2024, chị M đã nộp đơn xin ly hôn với anh T nhưng sau đó chị lại suy nghĩ vì con còn nhỏ nên chị đã rút đơn xin ly hôn. Nhưng đến nay, chị M và anh T vẫn không thể hàn gắn, hòa giải mâu thuẫn được với nhau khiến cho cả hai đều cảm thấy ngột ngạt, nặng nề. Nay, chị M xác định không còn tình cảm yêu thương dành cho anh Trần Thế N, cuộc sống vợ chồng trở nên ngột ngạt và mục đích hôn nhân không đạt được nên chị M đề nghị được ly hôn với anh Trần T.
Về con chung: Chị M trình bày chị và anh Trần T có 01 (một) con chung là Trần Ngô Anh T1, sinh ngày 20/02/2021. Hiện cháu T1 đang ở cùng chị M. Khi ly hôn, chị M đề nghị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng tiền cho chị M nuôi con chung.
Tài sản chung: Không có tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nợ chung: Chị M cam kết chị và anh T không có nợ chung.
* Anh Trần T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, các văn bản tố tụng nhưng anh Trần T không đến Tòa án làm việc, không tham gia phiên tòa và cũng không có ý kiến trình bày.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng.
Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Ngô Thị Xuân M được ly hôn với anh Trần T. Về con chung: Giao cho chị Ngô Thị Xuân M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Trần Ngô Anh T1, sinh ngày 20/02/2021. Chị M không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung nên không xem xét giải quyết. Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, nợ chung khai không có; bị đơn không có tranh chấp và không có yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết. Về án phí: Buộc nguyên đơn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng dân sự:
[1.1] Chị Ngô Thị Xuân M khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Trần T hiện đang cư trú tại địa chỉ số A, ấp L, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai và tranh chấp ai là người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Vì vậy quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
[1.2] Chị Ngô Thị Xuân M có đơn đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt; anh Trần T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng là đúng quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung vụ án:
2.1. Về yêu cầu xin ly hôn:
Quan hệ hôn nhân giữa chị Ngô Thị Xuân M và anh Trần Thế L hôn nhân hợp pháp, vì họ kết hôn tự nguyện, được cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận kết hôn vào năm 2020 theo đúng quy định tại Điều 9, Điều 11, Điều 12 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, không vi phạm các điều kiện cấm kết hôn quy định tại Điều 10 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được pháp luật công nhận, bảo vệ.
Quá trình chuẩn bị xét xử, Tòa án đã kêu gọi chị Ngô Thị Xuân M đoàn tụ với anh Trần T nhưng chị M vẫn cương quyết ly hôn vì cho rằng mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không còn tình cảm yêu thương, tôn trọng dành cho nhau nữa.
Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh Trần T đến Tòa án để làm việc, vận động hàn gắn đoàn tụ giữa chị Ngô Thị Xuân M và anh Trần T nhưng anh Trần T không chấp hành, vắng mặt mà không có lý do chính đáng. Vào tháng 5/2024, chị M đã nộp đơn xin ly hôn với anh T nhưng sau đó chị đã rút đơn xin ly hôn với mong muốn đoàn tụ gia đình. Tuy nhiên, anh T cũng không có biện pháp khắc phục mâu thuẫn vợ chồng. Chứng tỏ anh Trần T cũng không có thiện chí hàn gắn quan hệ hôn nhân của anh chị.
Như vậy, có đủ căn cứ xác định mâu thuẫn giữa chị Ngô Thị Xuân M và anh Trần T đã xảy ra trong thời gian dài, đã trầm trọng, giữa họ không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc đến nhau, hôn nhân không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cần chấp nhận cho chị Ngô Thị Xuân M được ly hôn với anh Trần T.
2.2. Về con chung:
Chị M yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Trần Ngô Anh T1, sinh ngày 20/02/2021. Anh Trần T không có ý kiến, tranh chấp về việc ai là người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Cháu Trần Ngô Anh T1 có nguyện vọng được ở cùng với chị M. Do đó, tiếp tục giao cho chị Ngô Thị Xuân M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Trần Ngô Anh T1 là đảm bảo việc phát triển toàn diện cho con và phù hợp với quy định của pháp luật.
Chị M không yêu cầu anh Trần T phải cấp dưỡng tiền cho chị nuôi con chung nên không xem xét, giải quyết.
2.3. Về tài sản chung: Chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản, anh Trần T không có tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
2.4. Về nợ chung: Chị M trình bày không có, anh Trần T không có tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[3] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, chị Ngô Thị Xuân M phải nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn.
[4] Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ Điều 51, Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 4 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Thị Xuân M:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị Xuân M được ly hôn với anh Trần T.
- Về con chung: Giao cho chị Ngô Thị Xuân M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Trần Ngô Anh T1, sinh ngày 20/02/2021.
Tạm thời, chị M không yêu cầu anh Trần T phải cấp dưỡng tiền cho chị M nuôi con chung.
Không ai được cản trở quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của anh Trần T.
Vì quyền lợi của con, khi điều kiện thay đổi các đương sự có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không có tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Ngô Thị Xuân M phải nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000807 ngày 12/03/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai. Chị Ngô Thị Xuân M đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Duy Mạnh |
Bản án số 79/2025/HNGĐ-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM - TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 79/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM - TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị Xuân Mai được ly hôn với anh Trần Thế. 2. Về con chung: Giao cho chị Ngô Thị Xuân Mai trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Trần Ngô Anh Thư, sinh ngày 20/02/2021. Tạm thời, chị Mai không yêu cầu anh Trần Thế phải cấp dưỡng tiền cho chị Mai nuôi con chung. Không ai được cản trở quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của anh Trần Thế. Vì quyền lợi của con, khi điều kiện thay đổi các đương sự có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. 3. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không có tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
