Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH TIỀN GIANG

Bản án số:79/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 30/05/2025

V/v Tranh chấp Ly hôn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TIỀN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Tường

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Minh Toàn
  2. Bà Lê Thị Phương Thảo

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thuý Quỳnh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành: Ông Duy Ngọc Thái-Kiểm sát viên

Ngày 30 tháng 05 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 657/2024/TLST-HNGĐ ngày 13/11/2024 về “Tranh chấp Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 16/05/2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Nguyễn Quốc C sinh năm 1993
  2. Địa chỉ: ấp 5, xã T, huyện C, Tiền Giang

  3. Bị đơn: Đinh Thị L sinh năm 1987
  4. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C. Tiền Giang

(Anh C và chị L có đơn xin vắng mặt tại phiên toà)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hoà giải, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ anh C trình bày:

Chị L và anh C chung sống vợ chồng vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T vào năm 2015 và được cấp giấy chứng nhận kết hôn. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm.

Do mâu thuẫn kéo dài mặc dù cố gắng hàn gắn nhiều lần nhưng không có kết quả, tình cảm vợ chồng không còn đã ly thân từ đầu năm 2018 đến nay nên anh C xin Tòa án giải quyết ly hôn với chị L. Về con chung có 01 con chung tên Nguyễn Minh T sinh ngày 17/11/2015, khi ly hôn anh C xin trực tiếp nuôi dưỡng cháu T, không yêu cầu chị L phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

*Bị đơn chị Đinh Thị L có đơn xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, tại bản tự khai ngày 28/11/2024 chị L có ý kiến trình bày đối với yêu cầu ly hôn và nuôi con chung của anh C thì chị L đồng ý ly hôn và đồng ý giao cháu T cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng, chị L không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

* Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra cũng như tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Chị L và anh C quen biết sau đó tự nguyện chung sống vợ chồng vào năm 2015, có đăng ký kết hôn theo quy định tại Ủy ban nhân dân xã T vào năm 2015. Anh chị chung sống hạnh phúc thời gian đầu sau đó thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân theo anh C trình bày là do chị L và anh C thường xuyên bất đồng quan điểm. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh C là hôn nhân hợp pháp. Nay anh C xin ly hôn với chị L nên được xem xét giải quyết theo quy định Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình.

Nguyên đơn và bị đơn xin vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt anh C chị Loan

Xét yêu cầu xin ly hôn của anh C

Anh C yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với chị L lý do giữa chị L và anh C phát sinh mâu thuẫn trầm trọng từ năm 2018, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh chị thường bất đồng quan điểm, giữa hai vợ chồng không còn tình cảm, không có khả năng hàn gắn, đã ly thân từ đầu năm 2018 đến nay. Anh C chị L có đơn xin vắng mặt trong quá trình giải quyết của Tòa án, tại bản tự khai ngày 28/11/2024 chị L có ý kiến trình bày đối với yêu cầu ly hôn và nuôi con chung của anh C thì chị L đồng ý ly hôn và đồng ý giao cháu T cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng, chị L không cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy cuộc sống hôn nhân giữa chị L và anh C đã có phát sinh mâu thuẫn từ năm 2018 và đã đến mức trầm trọng, hiện anh chị đã ly thân từ 2018 đến nay, do đó có cơ sở xác định mâu thuẫn giữa chị L và anh C là trầm trọng, không có khả năng hàn gắn, nên xét thấy cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh C theo qui định tại Điều 56 của Luật hôn nhân gia đình.

Về con chung:

chị L và anh C có 01 con chung là Nguyễn Minh T sinh ngày 17/11/2015. Khi ly hôn anh C xin trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu T, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy nguyện vọng của cháu T xin ở với cha, chị L cũng đồng ý giao cháu T cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng, do đó cần giao cháu T cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng là đảm bảo điều kiện cho cháu phát triển toàn diện về tinh thần và thể chất nên Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu T cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng. Anh C không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết về vấn đề cấp dưỡng.

Về tài sản chung: chị L và anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết về tài sản chung.

Về nợ chung: chị L và anh C không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết về nợ chung, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết về nợ chung.

Về án phí:

Anh C phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.

*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C phát biểu:

Thẩm phán và Hội đồng xét xử tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn và bị đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Đề nghị áp dụng các Điều 51,56,81,82,83 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh C, cho anh C ly hôn với chị L, về con chung đề nghị giao cháu T cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng, chị L không cấp dưỡng nuôi con chung, về tài sản chung và nợ chung không đặt ra xem xét giải quyết do không yêu cầu, đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân gia đình;

Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.

Xử:

  • Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn anh Nguyễn Quốc C: cho anh Nguyễn Quốc C được ly hôn với chị Đinh Thị L
  • Về con chung:

Giao cháu Nguyễn Minh T sinh ngày 17/11/2015 cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng, chị L không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, chị L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  • Về án phí:

Anh C phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ với số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà T1 đã nộp theo biên lai số 0012804 ngày 28/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C nên xem như bà T1 đã nộp xong án phí.

Bà T1 và ông T2 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

* Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND huyện C
  • - Chi cục THADS huyện C
  • - UBND xã T
  • - Đương sự
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Quốc Tường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 79/2025/HNGĐ-ST ngày 30/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TIỀN GIANG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 79/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: LY HÔN
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger