Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 28 - 02 - 2025

“V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Hồng Vân

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Bá Võ

Ông Mai Xuân Thường

- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thanh Tâm, Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 583/2024/TLST - HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2024, về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử 39/2025/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị T, sinh năm 1990; Địa chỉ: K, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
  2. Bị đơn: Anh Hồ Bảo T1, sinh năm 1990; Địa chỉ trước khi xuất cảnh: K, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Chỗ ở hiện nay: V. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn chị Lê Thị T trình bày:

Chị và anh Hồ Bảo T1 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 13/6/2013 tại Ủy ban nhân dân phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình và quan điểm sống không phù hợp dẫn đến tình cảm vợ chồng rạn nứt, không thể hòa hợp. Hiện nay chị T đang ở Việt Nam, còn anh T1 đang sống và làm việc tại nước Vương Quốc A. Từ khi đi nước ngoài một thời gian anh T1 không còn liên lạc về cho chị T. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị T làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Hồ Bảo T1.

Về con chung: Vợ chồng chị T và anh T1 có 02 con chung là cháu Hồ Anh T2, sinh ngày 13/9/2013 và cháu Hồ Bảo N, sinh ngày 26/12/2017, hiện nay 02 cháu đang ở với chị T. Ly hôn chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc 02 con chung và không yêu cầu anh Trung cấp D.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị T chưa yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn là anh Hồ Bảo T1: Quá trình từ khi thụ lý vụ án cho đến nay, bị đơn là anh Hồ Bảo T1 vắng mặt. Chị Lê Thị T không cung cấp được địa chỉ cụ thể hiện nay anh T1 cư trú, chị chỉ biết hiện nay anh T1 đang sinh sống tại V. Tòa án đã làm việc với ông Hồ Quốc V (là bố đẻ của anh T1), trú tại số nhà B, đường T, khối H, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An về việc cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cũng như yêu cầu ông V thông báo với anh T1 để gửi lời khai về cho Tòa án. Tuy nhiên, trong quá trình làm việc ông Hồ Quốc V (Là bố đẻ của anh T1) cho biết thời gian ở nước ngoài, anh Trung liên L về với ông V bằng điện thoại, còn địa chỉ cụ thể của anh T1 thì anh T1 không cung cấp nên ông V không biết. Ông V đã thông báo cho anh T1 biết về việc Tòa án đang thụ lý, giải quyết vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm giữa chị T và anh T1. Anh T1 thống nhất với yêu cầu ly hôn của chị T cũng như thống nhất việc giao hai con chung là cháu Hồ Anh T2, sinh ngày 13 tháng 9 năm 2013 và cháu Hồ Bảo N, sinh ngày 26 tháng 12 năm 2017 cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, anh T1 sẽ có trách nhiệm với con.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Lê Thị T ly hôn với anh Hồ Bảo T1. Về con chung: Đề nghị giao 02 con chung là cháu Hồ Anh T2, sinh ngày 13 tháng 9 năm 2013 và cháu Hồ Bảo N, sinh ngày 26 tháng 12 năm 2017 cho chị Lê Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T không yêu cầu nên không xem xét. Về tài sản chung, nợ chung: Chị T không yêu cầu nên không xem xét; dành quyền khởi kiện về chia tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Lê Thị T hiện cư trú tại Việt Nam làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hồ Bảo T1 hiện cư trú ở nước ngoài; trước khi xuất cảnh, anh T1 có địa chỉ cư trú tại khối H, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại Điều 37, Điều 40, Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình.

[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn là anh Hồ Bảo T1 vắng mặt, Tòa án đã gửi công văn yêu cầu ông Hồ Quốc V (Là bố đẻ của anh T1) cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn và thông báo cho anh V1 biết để gửi lời khai về cho Tòa án. Tuy nhiên, ông V không cung cấp được địa chỉ hiện nay của anh T1. Đến nay, Tòa án vẫn chưa nhận được văn bản trình bày ý kiến của anh Trung liên Q đến yêu cầu khởi kiện, nên được coi như trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung, Tòa án đã tiến hành cấp tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng tại địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của anh T1 trước khi xuất cảnh theo đúng quy định pháp luật. Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 2 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chị Lê Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị T và anh Hồ Bảo T1 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 13 tháng 6 năm 2013 tại Ủy ban nhân dân phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình và quan điểm sống không phù hợp dẫn đến tình cảm vợ chồng rạn nứt, không thể hòa hợp. Hiện nay chị T đang ở Việt Nam, còn anh T1 đang sống và làm việc tại V. Từ khi đi nước ngoài một thời gian anh T1 không còn liên lạc về cho chị T. Xét thấy, chị T và anh T1 không còn tình cảm vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T, căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho chị Lê Thị T được ly hôn anh Hồ Bảo T1.

[2.2] Về con chung: Chị Lê Thị T và anh Hồ Bảo T1 có 02 con chung là cháu Hồ Anh T2, sinh ngày 13 tháng 9 năm 2013 và cháu Hồ Bảo N, sinh ngày 26 tháng 12 năm 2017. Ly hôn, chị T có nguyện vọng Tòa án giao con chung cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và không yêu cầu anh Trung cấp D nuôi con. Nguyện vọng của chị T là chính đáng, phù hợp với quy định của pháp luật và điều kiện kinh tế, vì hiện nay, anh Hồ Bảo T1 đang ở nước ngoài và cố tình dấu địa chỉ. Do đó, căn cứ vào các Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị T, giao cho chị T được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung là cháu Hồ Anh T2, sinh ngày 13 tháng 9 năm 2013 và cháu Hồ Bảo N, sinh ngày 26 tháng 12 năm 2017 cho đến lúc đủ 18 tuổi, trưởng thành.

Về cấp dưỡng nuôi con, chị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Dành quyền khởi kiện cho chị T khi có yêu cầu.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lê Thị T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Dành quyền khởi kiện về tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong một vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.

[3] Về án phí sơ thẩm: Chị Lê Thị T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ vào Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 37, Điều 40, khoản 4 Điều 147, khoản 1, khoản 4 Điều 207, Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 469, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị T.
    • - Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị T được ly hôn anh Hồ Bảo T1.
    • - Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Hồ Anh T2, sinh ngày 13 tháng 9 năm 2013 và cháu Hồ Bảo N, sinh ngày 26 tháng 12 năm 2017 cho chị Lê Thị T được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến lúc đủ 18 tuổi, trưởng thành.
    • Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T chưa yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
    • Sau khi ly hôn, anh Hồ Bảo T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
    • - Về tài sản chung, nợ chung: Không giải quyết.
    • Dành quyền khởi kiện liên quan đến chia tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong một vụ án dân sự khác khi các đương sự có yêu cầu.
  2. Về án phí: Chị Lê Thị T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0004303 ngày 25 tháng 01 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vinh.
  3. Chị Lê Thị T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Anh Hồ Bảo T1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
  4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Chi cục THADS tp Vinh;
  • - UBND phường Lê Lợi, TP Vinh;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Thái Thị Hồng Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 79/2025/HNGĐ-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 79/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Lê Thị T được ly hôn anh Hồ Bảo T1.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger