Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LONG ĐẤT

TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 79/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 25-6-2025

V/v “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐẤT, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Bình.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Hồng Sơn
  2. Bà Trần Thị Mộng Thu.

Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Duyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Long – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 154/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 66/2025/QĐST-DS ngày 16 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:Trịnh Thị Kim L, sinh năm 1985; (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp C, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.

- Bị đơn: Ông Ngô Văn X, sinh năm 1990; (vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ A, khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 17/02/2025; bản tự khai và trong quá trình tố tụng tại Tòa, nguyên đơn bà Trịnh Thị Kim L trình bày:

Về hôn nhân: Bà L và ông X chung sống với năm năm 2015, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 13 ngày 09/01/2013 tại UBND thị trấn L, huyện L (nay là huyện L), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại địa chỉ tổ A, khu K, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2024 thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không còn thương yêu, thấu hiểu và đồng cảm với nhau, không còn chung quan điểm, thường xuyên mâu thuẫn, không có tiếng nói chung. Nên hai vợ chồng đã ly thân từ đầu năm 2024 cho đến nay, bà L chuyển về Vĩnh Long sinh sống. Trong thời gian ly thân vợ chồng không qua lại, chăm sóc lẫn nhau.

Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chung sống không còn hạnh phúc nên bà L yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông X.

- Về con chung: Bà L xác nhận bà và ông X không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn ông Ngô Văn X:

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông X không đến Tòa án tham gia giải quyết. Tòa án cũng không nhận được văn bản ý kiến hay bản tự khai của ông X.

Tại phiên tòa:

Bà L có đơn xin xét xử vắng mặt. Ông X đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Các đương sự không thỏa thuận được về việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn bà L đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn ông X vắng mặt trong quá trình tố tụng là chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Trịnh Thị Kim L yêu cầu ly hôn với ông Ngô Văn X nên xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn”; bị đơn ông X có địa chỉ cư trú tại huyện L nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, ông X đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông X theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về hôn nhân: Bà L và ông X chung sống với năm năm 2015, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 13 ngày 09/01/2013 tại UBND thị trấn L, huyện L (nay là huyện L), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại địa chỉ tổ A, khu K, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2024 thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không còn thương yêu, thấu hiểu và đồng cảm với nhau, không còn chung quan điểm, thường xuyên mâu thuẫn, không có tiếng nói chung. Nên hai vợ chồng đã ly thân từ đầu năm 2024 cho đến nay, bà L chuyển về Vĩnh Long sinh sống. Trong thời gian ly thân vợ chồng không qua lại, chăm sóc lẫn nhau.

Kết quả xác minh cho thấy: Bà L và ông X là vợ chồng. Do vợ chồng mâu thuẫn nên đã ly thân không còn chung sống với nhau từ tháng 4 năm 2025 cho đến nay, bà L chuyển về Vĩnh Long sinh sống.

Quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa ông X đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Điều đó cho thấy bản thân ông X không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng, bỏ mặc đời sống hôn nhân.

Từ những tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp; thực tế xác minh tại địa phương cho thấy mâu thuẫn giữa bà L và ông X là có thật, theo chiều hướng kéo dài và trầm trọng, ông bà đã thực sự không còn tình cảm với nhau, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ vào vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L đối với ông X.

[2.2] Về nuôi con chung: Bà L xác nhận không có con chung với ông X nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[2.3] Về chia tài sản: Bà L không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Bà L là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định của pháp luật.

[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[5] Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu là phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Các Điều 51, 56, 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Cho bà Trịnh Thị Kim L ly hôn ông Ngô Văn X.
  2. Về nuôi con chung: Không xem xét, giải quyết.
  3. Về chia tài sản chung, nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
  4. Về án phí: Bà Trịnh Thị Kim L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí sơ thẩm bà L đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002365, ngày 02/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân án dân sự huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Bà L đã nộp đủ án phí.
  5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - VKSND huyện Long Đất;
  • - THADS huyện Long Đất;
  • - UBND TT Long Hải (GCNKH số 13 ngày 09/01/2015);
  • - Đương sự;
  • - Lưu.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký và đóng dấu)

Phạm Thị Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 79/2025/HNGĐ-ST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐẤT, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về ly hôn

  • Số bản án: 79/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐẤT, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger