Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH TÂY NINH

Bản án số: 79/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 17-6-2025

V/v “Ly hôn, tranh chấp về

nuôi con”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Hồng Thảo Nguyên.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lâm Văn Be;

Ông Lê Văn Lài.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Võ Minh Mẫn - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 791/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 12 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2025 và quyết định hoãn phiên toà số 54/2025/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc Á, sinh năm 1981; nơi cư trú: Tổ A, ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Tây Ninh; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1979; nơi cư trú: Tổ A, ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 16-12-2024 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn, chị Nguyễn Thị Ngọc Á trình bày:

Chị và anh Nguyễn Văn D chung sống với nhau và đăng ký kết hôn vào ngày 18-4-2002 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Chị và anh D chung sống được khoảng 15 năm thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh D không phụ chị lo cho các con, thường không quan tâm lo lắng cho vợ con, có mối quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác bên ngoài. Chị và anh D ly thân từ năm 2020 đến nay. Chị đi làm rồi thuê nhà trọ ở và có khi thì về nhà mẹ ruột sống từ đó cho đến nay. Gia đình bên chồng có hoà giải để vợ chông về đoàn tụ nhưng anh D không thay đổi. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạnh phúc chị yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh D.

Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Văn M, sinh ngày 08-01-2004 và Nguyễn Văn D1, sinh ngày 14-02-2005. Con chung đã thành niên có khả năng lao động nên chị không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về nợ chung: Chị khai không có nợ chung nên không yêu cầu giải quyết.

Từ khi thụ lý vụ án Tòa án nhiều lần triệu tập anh Nguyễn Văn D đến để giải quyết vụ án nhưng anh D vắng mặt không rõ lý do, không nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

- Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý đến khi giải quyết vụ án. Các đương sự chấp hành đầy đủ các quy định pháp luật trong quá trình tham gia tố tụng.

- Về nội dung: Căn cứ Điều 9, 51, 56 và Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Nguyễn Thị Ngọc Á với anh Nguyễn Văn D; về con chung: đã thành niên và tự lao động sinh sống được nên không đặt ra giải quyết; về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết; về nợ chung: chị Á trình bày không có nên không đặt ra để giải quyết; về án phí: chị Á phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Á là nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; anh D là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần 2 không rõ lý do, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng chị Á và Anh D.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của chị Á:

[2.1] Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn D chung sống và đăng ký kết hôn vào ngày 18-4-2002 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Theo chị Á, quá trình chung sống hạnh phúc được khoảng 15 năm thì xảy ra mâu thuẫn do anh D không quan tâm lo lắng cho vợ con, có mối quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác mặc dù đã được gia đình hoà giải nhiều lần nhưng anh D không thay đổi; cả hai sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không hạnh phúc nên chị Á khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh D. Anh D mặc dù đã được Tòa án triệu tập và tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng không đến Tòa án, không gửi văn bản trình bày ý kiến nên không có ý kiến trình bày.

Xét thấy, anh chị đã không còn chung sống với nhau, giữa vợ chồng không còn yêu thương, quan tâm và sống ly thân một thời gian dài; tình trạng hôn nhân của anh chị đã đến mức trầm trọng, không thể khắc phục được, đời sống chung thực tế không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh D không đến Tòa án làm việc và hòa giải, không trình bày quan điểm, thể hiện anh D không có mong muốn đoàn tụ vợ chồng, không có nguyện vọng giải quyết mâu thuẫn. Như vậy, có căn cứ về việc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Á.

[2.2] Về con chung: Cả hai có 02 con chung tên Nguyễn Văn M, sinh ngày 08-01-2004 và Nguyễn Văn D1, sinh ngày 14-02-2005. Con chung đã thành niên có khả năng lao động nên chị không yêu cầu giải quyết; do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[2.3] Về tài sản chung: Chị Á không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[2.4] Về nợ chung: Chị Á khai không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[3] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành là có căn cứ và phù hợp với quy định pháp luật nên chấp nhận.

[4] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, chị Á là nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 9, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 4 Điều 147, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Ngọc Á đối với anh Nguyễn Văn D về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Chị Nguyễn Thị Ngọc Á được ly hôn với anh Nguyễn Văn D.

2. Về con chung: Cả hai có 02 con chung tên Nguyễn Văn M, sinh ngày 08-01-2004 và Nguyễn Văn D1, sinh ngày 14-02-2005. Con chung đã thành niên có khả năng lao động nên không đặt ra giải quyết.

3. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Ngọc Á không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về nợ chung: Chị Nguyễn Thị Ngọc Á không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ngọc Á phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu số 0010271 ngày 20 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Ghi nhận đã nộp xong.

Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Phòng KTNV. TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND huyện Châu Thành;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Thành;
  • - Đương sự;
  • - Cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.
  • - Lưu tập án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Hồng Thảo Nguyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 79/2025/HNGĐ-ST ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 79/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị Ngọc A và Nguyễn Văn D
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger