|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN TP.HÀ NỘI *** Bản án số: 79/2025/HNGĐ-ST Ngày: 17/02/2025 V/v xin ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ***** |
Nhân danh
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Chu Thị Tuyết
- Ông Đặng Như Hùng
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Xuân Huy – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Phương – Kiểm sát viên
Trong ngày 17 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 86/2024/TLST-HNGĐ ngày 08/03/2024 về việc xin ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 153/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 30/12/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị T, sinh năm 1996 – có mặt
- Bị đơn: Anh Vương Quốc T1, sinh năm 1989 – vắng mặt
Cùng ĐKHKTT: Số C B, phường K, quận T, Hà Nội
Cùng trú tại: Số A B, phường K, quận T, Hà Nội
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn ly hôn và quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn trình bày:
Chị và anh Vương Quốc T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 26/07/2018 tại UBND phường K, quận T, Hà Nội. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm, lối sống không hoà hợp. Đặc biệt là do anh T1 ngoại tình, anh T1 có tình cảm với nhiều người phụ nữ khác. Anh T2 còn chơi bời, thường xuyên đi chơi thâu đêm suốt sáng, không có trách nhiệm, bỏ bê vợ con, gia đình. Chị và gia đình hai bên đã khuyên nhủ anh T2 rất nhiều, những mong anh T2 thay đổi, quay về vun vén gia đình để cuộc sống chung của vợ chồng yên ấm, hạnh phúc, các con có một gia đình đủ đầy, anh T2 còn từng viết thư cho chị để nhận lỗi và tỏ ra ăn năn hối cải. Nhưng thực tế anh T2 không hề thay đổi vẫn chứng nào tật ấy và ngày càng đối xử tệ bạc với chị. Anh T2 vẫn thường xuyên có quan hệ tình cảm với nhiều cô gái và còn đánh đập chị, chửi bới đe doạ chị nhiều lần. Chị cảm thấy cuộc sống chung ngày càng ngột ngạt bế tắc và nhiều mệt mỏi. Đến nay, chị nhận thấy mâu thuẫn đã quá trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân xây dựng gia đình hạnh phúc không đạt được. Vì vậy chị tha thiết xin được ly hôn với anh T2.
Về con chung: Vợ chồng chị có 02 con chung là cháu Vương Quỳnh A (nữ), sinh ngày 22/12/2018, cháu Vương Quốc Duy P (nam), sinh ngày 31/07/2020. Chị mong muốn được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung và không yêu cầu anh T2 phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Nhưng nếu Toà án giải quyết giao mỗi người nuôi một con thì chị đề nghị được nuôi con gái lớn là cháu Vương Quỳnh A vì cháu là con gái, cần sự chăm sóc của người mẹ nhiều hơn. Hiện vợ chồng chị đang ở nhà của bố mẹ chồng, nên sau khi ly hôn, chị sẽ đi thuê nhà để ở. Chị làm kinh doanh trong lĩnh vực mạng, thu nhập bình quân hơn 20.000.000 đồng/tháng, đảm bảo đủ điều kiện để nuôi con tốt.
Về tài sản: Vợ chồng chị không có tài sản chung, không có nợ chung. Chị không yêu cầu Toà án giải quyết về tài sản.
Tại bản tự khai ngày 08/03/2024, anh T2 trình bày:
Anh và chị Bùi Thị T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 26/07/2018 tại UBND phường K, quận T, Hà Nội. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh sinh sống tại địa chỉ số C B, phường K, quận T, Hà Nội. Vợ chồng sống hạnh phúc đến hiện tại thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nên hai bên không tìm được tiếng nói chung, mặc dù đã tìm cách khắc phục nhưng không có kết quả. Nay chị T xin ly hôn, anh không đồng ý ly hôn vì vẫn còn tình cảm với vợ và anh không muốn các con bị thiếu hụt tình yêu thương của bố mẹ.
Về con chung: Vợ chồng anh có 02 con chung là cháu Vương Quỳnh A (nữ), sinh ngày 22/12/2018, cháu Vương Quốc Duy P (nam), sinh ngày 31/07/2020. Nếu phải ly hôn anh mong muốn được nuôi cả hai con do nghề nghiệp của chị T bấp bênh, không đủ chi phí nuôi dưỡng con chung, nếu ly hôn chị T phải đi thuê nhà.
Về tài sản: Vợ chồng anh không có tài sản chung, không đề nghị Tòa án giải quyết về tài sản.
Sau đó anh T2 không đến tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải; đồng thời không cung cấp chứng cứ về việc làm, thu nhập, chỗ ở cho Toà án.
Tại Giấy xác nhận tình trạng chung sống của vợ chồng, ông Nguyễn Đức H (tổ trưởng tổ dân phố A, phường K, T, Hà Nội) cung cấp như sau: Về mâu thuẫn vợ chồng: Không đồng quan điểm trong hôn nhân, anh T2 hay đi ngoại tình, không quan tâm và không có trách nhiệm với vợ con. Về con chung, vợ chồng chị T anh T2 có 02 con chung là cháu Vương Quỳnh A, sinh ngày 22/12/2018, cháu Vương Quốc Duy P, sinh ngày 31/07/2020. Ông đề nghị mẹ nuôi hai con.
Tại đơn đề nghị, ông Bùi Đức T3 (bố ruột chị T) trình bày: Ông là bố đẻ của chị Bùi Thị T. Mẹ chị là bà Hoàng Thị H1 đã mất ngày 01/10/2023. Nay ông làm đơn xin trình bày với Toà án về quá trình vợ chồng Thảo T4 chung sống với nhau. Mặc dù ông không sống cùng vợ chồng chị T anh T4 nhưng được nghe chị T, vợ ông, con trai, con dâu, hàng xóm sống cạnh nhà chị T, mọi người kể lại là vợ chồng không hoà thuận, cãi nhau nhiều lần, anh T4 có những hành vi và việc làm không đúng chuẩn mực của người chồng, người cha. Làm cha mẹ không ai muốn gia đình các con tan vỡ, tuy nhiên ông thấy mâu thuẫn của vợ chồng chị T anh T4 quá trầm trọng. Nếu tiếp tục sống chung chỉ làm cuộc sống thêm căng thẳng và nguy hiểm đến tính mạng của chị T (con gái ông). Vì vậy, nay chị T xin ly hôn, ông kính mong Toà án xem xét giải quyết cho chị T, anh T4 ly hôn, giúp chị T sớm ổn định cuộc sống tinh thần, làm việc nuôi dạy con cái.
Ngày 25/12/2024, chị T làm đơn đề nghị với nội dung đề nghị Toà án không tiến hành hoà giải nữa vì mâu thuẫn của vợ chồng chị đã quá trầm trọng, kéo dài trong nhiều năm, đến nay không thể hàn gắn. Trong vụ án này, Toà án cũng đã cho vợ chồng thời gian để hàn gắn (từ tháng 3 đến tháng 9/2024) nhưng không hàn gắn được. Hiện nay anh T4 còn tỏ thái độ bất hợp tác, không đến Toà án làm việc. Vì vậy chị T đề nghị Toà án không tiến hành hoà giải nữa, sớm đưa vụ án ra xét xử, giải quyết cho chị được ly hôn để còn ổn định cuộc sống.
Toà án làm công văn hỏi ý kiến của Phòng Lao động thương binh và xã hội quận T, được Phòng Lao động thương binh và xã hội quận T trả lời: Đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật và đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp cho trẻ em.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn giữ nguyên ý kiến xin được ly hôn anh T4 và đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung, tự nguyện không yêu cầu anh T4 cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Anh T2 được triệu tập hợp lệ hai lần nhưng đều vắng mặt tại phiên toà không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Toà án nhân dân quận Thanh Xuân (Thẩm phán, Thư ký) đã tuân thủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên toà, Hội đồng xét xử thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn được triệu tập hợp lệ hai lần nhưng đều vắng mặt không có lý do.
Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận đơn xin ly hôn của chị T, cho chị T được ly hôn anh T2. Giao con chung là cháu Vương Quỳnh A cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Vương Quốc Duy P cho anh T2 trực tiếp nuôi dưỡng, không bên nào phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, được công khai tại phiên tòa; trên cơ sở ý kiến của đương sự, Kiểm sát viên
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị T và anh Vương Quốc T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 26/07/2018 tại UBND phường K, quận T, Hà Nội nên là hôn nhân hợp pháp.
Xét thấy: Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, lối sống không hòa hợp, anh T1 thường xuyên có quan hệ tình cảm với nhiều cô gái và đánh đập, chửi bới, đe doạ chị T nhiều lần, không có trách nhiệm, bỏ bê vợ con, gia đình. Chị T nhận thấy mâu thuẫn đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị được ly hôn anh T1. Anh T2 không đồng ý ly hôn nhưng không có biện pháp cải thiện mâu thuẫn. Tại bản tự khai, anh T2 khẳng định “mặc dù đã tìm cách khắc phục nhưng không có kết quả”. Toà án đã cho vợ chồng thời gian để hàn gắn tình cảm nhưng hai bên không hàn gắn được, chị T tha thiết xin được ly hôn anh T2, anh T2 có thái độ bỏ mặc, không đến tham gia phiên hoà giải. Do đó căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Vương Quỳnh A (nữ), sinh ngày 22/12/2018, cháu Vương Quốc Duy P (nam), sinh ngày 31/07/2020.
Hai bên đều đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, nhưng chỉ có chị T cung cấp chứng cứ chứng minh điều kiện kinh tế đủ để nuôi con, anh T2 không cung cấp bất kỳ chứng cứ nào, đồng thời vắng mặt tại phiên hoà giải, vắng mặt tại phiên toà, cho thấy sự vô trách nhiệm của anh T2. Quá trình vợ chồng chung sống, anh T2 không có trách nhiệm, bỏ bê vợ con. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu của chị T về nuôi con, giao chị T trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung, và ghi nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh T2 cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản: Các đương sự đều không đề nghị Tòa án giải quyết về tài sản nên Tòa không xem xét.
Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Bùi Thị T đối với anh Vương Quốc T1. Chị Bùi Thị T được ly hôn anh Vương Quốc T1
- Về con chung: Giao hai con chung là Vương Quỳnh A (nữ), sinh ngày 22/12/2018 và Vương Quốc Duy P (nam), sinh ngày 31/07/2020 cho chị Bùi Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng tiền nuôi con chung, cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc khi các bên có sự thay đổi khác. Anh T2 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định của pháp luật, không ai được cản trở.
- Về tài sản: Không xem xét
- Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng, được đối trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà chị T đã nộp tại biên lai số 0012928 ngày 08/03/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Thanh Xuân, Hà Nội.
- Về quyền kháng cáo: Chị T có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Anh T2 vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Thúy Ngọc |
Bản án số 79/2025/HNGĐ-ST ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN TP.HÀ NỘI về xin ly hôn
- Số bản án: 79/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN TP.HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xin ly hôn
