|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – HƯNG YÊN
Bản án số: 79/2025/HNGĐ-ST Ngày: 05 - 12 - 2025 V/v: “Tranh chấp Hôn nhân gia đình” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ——————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – HƯNG YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nhi
- - Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Như Trang và bà Đoàn Thị Duyên.
- - Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 6 – Hưng Yên.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Thuỷ - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 6 – Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 90/2025/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2025 về việc: “Tranh chấp hôn nhân gia đình” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 05/11/2025 và quyết định hoãn phiên toà số 53/2025/QĐST- HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: chị Phạm Thị P, sinh năm 1991 (có đơn xin vắng mặt).
- Sinh quán: Thôn B, xã K, thành phố Hải Phòng
- Nơi ĐKHKTT: thôn C, xã B, tỉnh Hưng Yên;
- Nơi ở hiện nay: E ấp C, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- - Bị đơn: anh Trần Hồng C, sinh năm 1986 (vắng mặt).
- Địa chỉ: thôn C, xã B, tỉnh Hưng Yên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn và trong quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn - chị Phạm Thị P trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Hồng C tự do tìm hiểu tự nguyện kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình nay là xã B, tỉnh Hưng Yên vào ngày 19/3/2018. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau hoà thuận, hạnh phúc được khoảng 04 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân của mâu thuẫn là do anh C nghiện ngập, chị đã khuyên nhủ rất nhiều nhưng anh C vẫn không cải thiện dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên từ đầu năm 2022 đến nay chị và anh C đã sống ly thân. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể quay lại chung sống cùng nhau được nên chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh C.
Về quan hệ con chung: Chị và anh C có 01 con chung là Trần Bình A, sinh ngày 14/12/2018 hiện đang do anh C trực tiếp nuôi dưỡng. Ly hôn, chị đồng ý nhường con chung cho anh C tiếp tục nuôi con và chị tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh C hàng tháng là 2.000.000đồng/01 tháng.
Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị và anh C không có tài sản gì chung, không vay nợ ai chung và cũng không cho ai vay nợ chung nên chị không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về phía bị đơn: Tòa án đã triệu tập bị đơn là anh Trần Hồng C nhiều lần nhưng anh C không đến Tòa án để làm việc. Tòa án đã tiến hành xác minh và lấy lời khai của mẹ đẻ anh C là bà Phạm Thị H, sinh năm 1960, trú tại thôn C, xã B, tỉnh Hưng Yên.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 23/10/2025 bà H trình bày: Anh Trần Hồng C và chị Phạm Thị P kết với nhau là hoàn toàn tự nguyện và được Ủy ban nhân dân xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình nay là xã B, tỉnh Hưng đăng ký kết hôn vào ngày 19/3/2018. Sau khi kết hôn chị P về chung sống cùng anh C tại gia đình nhà bà, quá trình chung sống vợ chồng bà thấy hoà thuận chứ không thấy vợ chồng to tiếng cãi chửi nhau gì cả. Tuy nhiên đến khoảng tháng 9 năm 2022 chị P tự ý bỏ nhà đi, từ đó đến nay không quay về chung sống cùng anh C nữa, cũng không trông nom, chăm sóc, hỏi thăm và cũng không có trách nhiệm gì đối với con chung của anh C và chị P, mặc dù con chung của 2 người vẫn do anh C trực tiếp nuôi dưỡng và ở cùng với gia đình bà. Anh C và chị P có 01 chung tên là Trần Bình A, sinh ngày 14/12/2018, hiện đang do anh C trực tiếp nuôi dưỡng và đang học lớp 2 trường tiểu học V, xã B, tỉnh Hưng Yên. Mới gần đây anh C đi làm ăn xa thì cháu do vợ chồng bà trông nom còn anh C có trách nhiệm gửi tiền về nuôi con. Trong suốt quá trình chung sống thì vợ chồng anh C chị P ở cùng với gia đình bà, theo bà biết thì anh chị ấy chưa tạo lập được bất cứ tài sản gì chung, không nợ nần gì ai và cũng không ai nợ nần gì anh chị ấy cả. Nay chị P có đơn xin ly hôn anh C và nhường con chung cho anh C tiếp tục nuôi dưỡng thì anh C và gia đình bà đều đồng ý và vợ chồng bà sẽ vẫn tiếp tục hỗ trợ anh C trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung với anh C.
Hiện tại anh C đang đi làm ăn ở tỉnh ngoài, tuy nhiên làm gì và địa chỉ cụ thể thì bà không biết, thi thoảng anh C vẫn về thăm con. Gia đình bà có nhận được giấy báo và văn bản tố tụng của Toà án gửi cho anh C, bà có thông báo cho anh C biết việc này nhưng anh C nói không về được và nhờ bà đến Toà để trình bày vụ việc. Bà H cam kết sẽ nhận văn bản tố tụng của Toà án giao và sẽ thông tin hoặc giao lại văn bản cho anh C.
Kết quả xác minh tại xã B, tỉnh Hưng Yên thể hiện: Anh Trần Hồng C có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa phương, anh C là thợ cơ khí thời gian gần đây anh C đi làm ăn ở tỉnh ngoài địa phương không biết địa chỉ cụ thể tuy nhiên thi thoảng anh C vẫn về nhà. Anh C và chị Phạm Thị P tự nguyện kết hôn và có đăng ký hết hôn tại UBND xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình nay là xã B, tỉnh Hưng Yên vào ngày 19/3/2018. Sau khi kết hôn chị P và anh C chung sống với nhau cùng gia đình anh C tại địa phương. Đến năm 2022 chị P và anh C phát sinh mâu thuẫn nên chị P không chung sống cùng anh C tại địa phương nữa. Quá trình chung sống giữa anh C và chị P có 01 con chung là Trần Bình A, sinh ngày 14/12/2018, hiện đang sống cùng bố mẹ anh C và đang học trường tiểu học V. Về quan hệ tài sản chung và công nợ chung giữa chị P và anh C địa phương không nắm rõ. Đến nay chị P có đơn xin ly hôn anh C, địa phương đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Hưng Yên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:
- - Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án, nguyên đơn đã thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật luật tố tụng dân sự, bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xử cho chị Phạm Thị P được ly hôn anh Trần Hồng C. Về quan hệ con chung: Giao cho anh Trần Hồng C tiếp tục nuôi dưỡng con chung Trần Bình A, sinh ngày 14/12/2018, chị Phạm Thị P tự nguyện cấp dưỡng nuôi con hàng tháng cùng anh C là 2.000.000đồng/01 tháng kể từ tháng 12/2025 cho đến khi con chung tròn 18 tuổi. Về quan hệ tài sản chung và công nợ chung: Không đặt giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng:
Xét thấy nguyên đơn là chị Phạm Thị P khởi kiện xin ly hôn anh Trần Hồng C, anh C đăng ký hộ khẩu thường trú và đang sinh sống tại xã B, tỉnh Hưng Yên. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử xét thấy Toà án nhân dân khu vực 6 – Hưng Yên đã thụ lý và giải quyết yêu cầu của chị P là đúng thẩm quyền.
Tại phiên toà anh C đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai mà không có lý do. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt anh C là phù hợp với quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành biện pháp thu thập tài liệu, chứng cứ. Vì vậy Viện kiểm sát tham gia phiên toà là đúng với quy định tại Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về áp dụng pháp luật nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị P và anh Trần Hồng C tự nguyện kết hôn có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình nay là xã B, tỉnh Hưng Yên vào ngày 19/3/2018 xác định là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng chị P anh C chung sống với nhau được 04 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn theo chị P là do anh C bị nghiện ma tuý. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên chị P và anh C đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay không ai còn quan tâm đến ai nữa. Vì vậy đến nay chị P xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh C đã hết không thể quay lại chung sống cùng nhau được nên đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh C. Anh C mặc dù biết việc chị P làm đơn ly hôn tại Toà nhưng không đến Toà làm việc cũng không có văn bản thể hiện quan điểm của mình điều này thấy rằng anh C không có ý định hàn gắn mối quan hệ hôn nhân giữa anh và chị P nữa. Từ những tình tiết nêu trên, xét thấy tình trạng hôn nhân của chị P và anh C đã trầm trọng, đời sống chung trên thực tế không còn tồn tại, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần xử cho chị P được ly hôn anh C là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về quan hệ con chung: Xét thấy con chung của chị P và anh C hiện đã trên 36 tháng tuổi và đang do anh C nuôi dưỡng. Ly hôn chị P có nguyện vọng nhường con chung cho anh C tiếp tục nuôi dưỡng và chị tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng cùng anh C là 2.000.000đồng/01 tháng. Mẹ đẻ anh C cũng cam kết sẽ tiếp tục hỗ trợ anh C trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng con anh C. Để tránh làm xáo trộn cuộc sống và đảm bảo điều kiện tốt nhất có thể của con chung cần giao cho anh C tiếp tục nuôi con chung là phù hợp với quy định tại Điều 83 của Luật Hôn nhân gia đình.
Về quan hệ tài sản chung và công nợ chung: Chị P trình bày vợ chồng không có tài sản gì chung, không vay nợ ai chung và cũng không cho ai vay nợ chung nên chị không yêu cầu Toà án giải quyết, anh C không đến Toà làm việc cũng không có văn bản thể hiện quan điểm của mình nên không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Chị Phạm Thị P phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí về cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định tại điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 24, điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị P được ly hôn anh Trần Hồng C.
- Về quan hệ con chung: Giao cho anh Trần Hồng C tiếp tục nuôi dưỡng con chung Trần Bình A, sinh ngày 14/12/2018, chị Phạm Thị P tự nguyện cấp dưỡng nuôi con hàng tháng cùng anh C là 2.000.000đồng/01 tháng kể từ tháng 12/2025 cho đến khi con chung tròn 18 tuổi.
Chị Phạm Thị P có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục và có quyền đề nghị thay đổi người trực tiếp nuôi con chung.
- Về quan hệ tài sản chung và công nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Chị Phạm Thị P phải chịu 300.000đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000đồng tiền án phí về cấp dưỡng nuôi con chung. Chuyển số tiền 300.000đồng chị P đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0002183 ngày 15 tháng 10 năm 2025 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6 – Hưng Yên thành tiền án phí nên chị P còn phải tiếp tục nộp 300.000đồng.
Án xử công khai sơ thẩm, chị Phạm Thị P và anh Trần Hồng C có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nhi |
Bản án số 79/2025/HNGĐ-ST ngày 05/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – HƯNG YÊN về tranh chấp hôn nhân gia đình
- Số bản án: 79/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phượng - Cẩm
