|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 79/2025/DS-ST Ngày: 04/06/2025 V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thụ
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Mai Thị Tuyết Dung
- Ông Hồ Bạch Long
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Mạnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thanh Long - Kiểm sát viên.
Trong ngày 04 tháng 06 năm 2025, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 168/2023/TLST-DS ngày 23 tháng 10 năm 2023, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2025/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 05 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phan Thị T, sinh năm: 1959; Địa chỉ: 1 ấp Đ (hiện nay là ấp Đ), xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm: 1942; Địa chỉ: 1 ấp Đ, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
+ Ủy ban nhân dân xã L, huyện C; Địa chỉ: đường R, ấp L, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn T2 – Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 12/02/2020 và đơn khởi kiện bổ sung đề ngày 08/7/2024 trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Phan Thị T trình bày:
Vào năm 1986 bà T là người trực tiếp đến khai hoang và sử dụng phần đất có diện tích khoảng 300m². Ban đầu phần đất trên được bà đào ao nuôi cá, sau đó chuyển sang trồng đước và sử dụng ổn định đến nay. Đến năm 2017 bà tiến hành đo đạc để hợp thức hóa và nộp hồ sơ tại Văn phòng Đ chi nhánh huyện C. Đến ngày 16/03/2017 Văn phòng đăng ký trả lời phần đất bà T xin hợp thức hóa bị trùng với đất của bà Huỳnh Ngọc H nên yêu cầu bà T liên hệ để đo đạc lập bản vẽ trừ đi phần đất trùng với bà H. Sau đó bà có đi đo vẽ lại nhưng không được Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh huyện C xác nhận nội nghiệp nên bà đã gửi đơn yêu cầu hòa giải đến UBND xã L nhưng không thành nên bà đã nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ.
Quá trình giải quyết tại Tòa án đã tiến hành tổ chức đo đạc hiện trạng vị trí đất tranh chấp thì xác định phần đất tranh chấp có diện tích 275,4m² nhằm một phần thửa 21-1, tờ bản đồ 9 (theo tài liệu 02/CT-UB); tọa lạc tại xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh theo bản vẽ hiện trạng vị trí – áp ranh ngày 01/12/2023 của Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H và Công văn số 1198/UBND ngày 10/5/2024 thì phần đất tranh chấp nêu trên đã được bà Nguyễn Thị Thanh đăng K nhưng không sử dụng.
Đến ngày 08/7/2024 bà T đã làm đơn khởi kiện bổ sung yêu cầu Tòa án giải quyết công nhận cho bà T được trực tiếp sử dụng và được liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với phần đất có diện tích 275,4m² nhằm một phần thửa 21-1, tờ bản đồ 9 (theo tài liệu 02/CT-UB), tọa lạc tại xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (theo bản đồ hiện trạng vị trí ngày 01/12/2023 của Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H). Đồng thời xác định phần diện tích tranh chấp nêu trên không còn liên quan đến bà Huỳnh Ngọc H nên ngày 21/4/2025 bà H có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện liên quan đến tranh chấp với bà Huỳnh Ngọc H. Do phần đất tranh chấp hiện nay bà Nguyễn Thị T1 đã đăng ký nên đề nghị Tòa án xác định bị đơn là bà Nguyễn Thị T1.
Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết
+ Tạm giao cho bà Phan Thị T được trực tiếp sử dụng phần đất có diện tích 275,4m² nhằm một phần thửa 21-1, tờ bản đồ 9 (theo tài liệu 02/CT-UB), tọa lạc tại xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (theo bản đồ hiện trạng vị trí ngày 01/12/2023 của Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H).
+ Trong trường hợp có nhu cầu được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phần đất trên thì bà Phan Thị T có trách nhiệm tự liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục theo quy định.
- Quá trình giải quyết bị đơn bà Nguyễn Thị T1 trình bày: Đối với yêu cầu của bà T trong đơn khởi kiện bổ sung ngày 08/7/2024 về phần đất có diện tích 275,4m² nhằm một phần thửa 21, tờ bản đồ số 162, tọa lạc tại xã L. Do bà T đang trực tiếp sử dụng, đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không nằm trong phần đất bà H đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không có tranh chấp với bà H; phần đất này do bà trực tiếp kê khai đăng ký để làm bờ bao theo Chỉ thị 02/CT-UB nhưng không sử dụng, hiện nay bà T đang trực tiếp sử dụng thì bà T đăng ký kê khai trực tiếp theo quy định của pháp luật.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân xã L: Tại công văn số 1198/UBND ngày 10/5/2024 của Ủy ban nhân dân xã L trả lời về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất như sau: Khu đất có diện tích 362,4m²; thuộc một phần thửa 20-1; 21-1; tờ bản đồ 162(BĐĐC-2005); toạc lạc xã L bao gồm: Theo tài liệu chỉ thị 02/CT-UB là do bà Nguyễn Thị Thanh đăng K, loại đất ao, vườn; một phần thửa 20 do ông Phan Văn A đăng ký, loại đất vườn. Hiện nay do bà Phan Thị T đang trực tiếp quan lý và trồng đước, đào ao nuôi cá sử dụng đến nay. Đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tại phiên toà:
Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu như trong đơn khởi kiện bổ sung.
Bị đơn bà Nguyễn Thị T1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Đại diện theo pháp luật của Ủy ban nhân dân xã L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý và giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thẩm quyền. Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Đối với việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự: Nguyên đơn; bị đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71, 72, 73 và 234 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn đối với bị đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và lời trình bày của đương sự tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
- Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Bà Phan Thị T có đơn khởi kiện về tranh chấp quyền sử dụng đất đối với bà Nguyễn Thị T1. Phần diện tích đất tranh chấp có tọa lạc xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 2 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 3 Điều 36; điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về sự vắng mặt của đương sự:
Tại phiên toà hôm nay nguyên đơn bà Phan Thị T; bị đơn bà Nguyễn Thị T1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2]. Về nội dung:
Nguyên đơn bà Phan Thị T yêu cầu Toà án tạm giao cho bà Phan Thị T được trực tiếp sử dụng phần đất có diện tích 275,4m² nhằm một phần thửa 21-1, tờ bản đồ 9 (theo tài liệu 02/CT-UB), tọa lạc tại xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (theo bản đồ hiện trạng vị trí ngày 01/12/2023 của Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H). Trong trường hợp có nhu cầu được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phần đất trên thì bà Phan Thị T có trách nhiệm tự liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục theo quy định.
Sau khi xem xét đối chiếu các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy: Xét phần đất thuộc thửa 21-1, tờ bản đồ 9 (theo tài liệu 02/CT-UB), diện tích 303,7m² tọa lạc tại xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh theo bản đồ hiện trạng vị trí ngày 01/12/2023 của Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H. Phần đất 303,7m² nêu trên có một phần diện tích 34,2m² được ký hiệu (1) theo bản đồ hiện trạng vị trí ngày 01/12/2023 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên bà T không yêu cầu giải quyết đối với phần diện tích đất này nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đối với phần đất tranh chấp có diện tích là 275,4m² nhằm một phần thửa 21-1, tờ bản đồ 9 (theo tài liệu 02/CT-UB) (tức thửa 162 theo tài liệu 2006), tọa lạc tại xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh theo bản đồ hiện trạng vị trí ngày 01/12/2023 của Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H có nguồn gốc do bà Nguyễn Thị Thanh đăng K loại đất ao, vườn nhưng do bà Phan Thị T trực tiếp quản lý, sử dụng và trồng đước, đào ao nuôi cá sử dụng đến nay, phần đất này chưa được cấp giấy chứng nhận cho ai. Đồng thời bà Nguyễn Thị T1 cũng thừa nhận phân đất này do bà trước đây đăng ký nhưng do bà T trực tiếp quản lý, sử dụng từ trước đến nay. Nay bà T đăng ký kê khai để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bà đồng ý. Từ đó có cở sở để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bà Nguyễn Thị T1.
[3] Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp quy định của pháp luật, phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên có căn cứ chấp nhận.
[4]. Về chi phí đo đạc; xem xét, thẩm định tại chỗ: Bà Phan Thị T tự nguyện chịu không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
[5]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị T1 phải chịu nhưng được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ vào các điều 26, 100, 166, 202 và 203 Luật đất đai.
Căn cứ vào Điều 166, 579, 580 Bộ luật dân sự.
Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Căn cứ các điều 6, 7, 7b, 9 và 30 Luật thi hành án dân sự.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị T đối với bà Nguyễn Thị T1.
Tạm giao cho bà Phan Thị T được quyền sử dụng phần đất có diện tích là diện tích 275,4m² nhằm một phần thửa 21-1, tờ bản đồ 9 (theo tài liệu 02/CT-UB), tọa lạc tại xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (theo bản đồ hiện trạng vị trí ngày 01/12/2023 của Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H).
Trong trường hợp có nhu cầu được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phần đất trên thì bà Phan Thị T có trách nhiệm tự liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục theo quy định.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị T1 được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
- Quyền kháng cáo:
Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao, bản án hợp lệ.
- Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án:
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Thụ |
Bản án số 79/2025/DS-ST ngày 04/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 79/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
