Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2025/DS - ST

Ngày 01 - 7 - 2025

“V/v tranh chấp quyền sử dụng

đất và hủy quyết định cá biệt”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Phấn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Huy Viện

Ông Mai Xuân Thường

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 và ngày 01 tháng 7 năm 2025, tại Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 238/2024/TLST-DS ngày 9 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy quyết định cá biệt”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 154/2025/QĐXXST-DS ngày 30/5/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

  1. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1960 (thành viên của dòng họ Nguyễn H1). Có mặt.
  2. Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1945. Có mặt;

Cùng địa chỉ: Xóm H, xã N, huyện N (nay là xã H), tỉnh Nghệ An.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:

  1. Bà Nông Thị N, sinh năm 1987. Địa chỉ: K, phường T, thành phố V (nay là phường T), tỉnh Nghệ An. Có mặt;
  2. Ông Trần Công N1, sinh năm 1996. Địa chỉ: Tổ C Q, thành phố L (nay là phường Đ), tỉnh Lai Châu. Có mặt;
  3. Ông Nguyễn Quang T, sinh năm 2001. Địa chỉ: Xóm L, xã H, huyện Đ (nay là xã B), tỉnh Nghệ An. Có mặt;

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1947 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1951 (vợ ông L). Đều trú tại: Xóm H, xã N, huyện N (nay là xã H), tỉnh Nghệ An. Có mặt ngày 27/6, vắng mặt ngày 01/7/2025;

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông L, bà T1: Ông Đoàn Văn

2

H2, Chi nhánh Miền trung Công ty L2 – Đoàn luật sư thành phố H. Có mặt;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nguyễn Văn H3, sinh năm 1983 và chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1988 (vợ anh H3); địa chỉ: Xóm H, xã N, huyện N (nay là xã H), tỉnh Nghệ An. Vắng mặt;
  2. Ủy ban nhân dân huyện N (nay là xã H), tỉnh Nghệ An. Vắng mặt;
  3. Ủy ban nhân dân xã N, huyện N (nay là xã H), tỉnh Nghệ An. Vắng mặt;

Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của UBND huyện N và UBND xã N: Ủy ban nhân dân xã H, tỉnh Nghệ An.

- Các thành viên của dòng họ Nguyễn H1 tại xóm H, xã N, huyện N (nay là xã H), tỉnh Nghệ An:

  1. Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1975. Có mặt;
  2. Ông Nguyễn Hải T4, sinh năm 1974. Có mặt;
  3. Ông Nguyễn Văn T5, sinh năm 1962. Có mặt;
  4. Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1964. Có mặt;

Đại diện theo ủy quyền của ông T3, ông T4, ông T5 (1962), ông C: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1960. Có mặt;

  1. Ông Nguyễn Văn T5, sinh năm 1965. Có mặt;
  2. Ông Nguyễn Văn X, sinh năm 1968. Có mặt;
  3. Ông Nguyễn Văn H4, sinh năm 1973. Có mặt;
  4. Ông Nguyễn Văn N2, Sinh năm 1975. Có mặt;
  5. Ông Nguyễn Điều K, sinh năm 1956. Có mặt;

Đều cùng địa chỉ: Xóm H, xã N, huyện N (nay là xã H), tỉnh Nghệ An.

  1. Ông Nguyễn Văn H5, Địa chỉ: Xóm T, xã N, huyện N (nay là xã H), tỉnh Nghệ An. Vắng mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 30 tháng 5 năm 2024, các lời khai, hòa giải trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, ông Nguyễn Văn H (thành viên của dòng họ Nguyễn H1) và người đại diện theo ủy quyền của ông H thống nhất trình bày: Dòng họ Nguyễn H1 đã tồn tại trên 200 năm trải qua 9 đời nhà thờ tọa lạc trên thửa đất số 342, tờ bản đồ số 1 (bản đồ 299) diện tích 100m2 tại xóm H, xã N, huyện N (nay là xã H), tỉnh Nghệ An. Theo sổ địa chính, sổ mục kê lưu tại UBND xã N thể hiện thửa đất số 342, tờ bản đồ số 1 của gia đình ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị T1 kê khai 150m² đất ở và 100m² đất nhà thờ. Ngày 21/7/1997 UBND huyện N đã cấp giấy CNQSD đất mang tên bà Nguyễn Thị T1 diện tích 150m² đất ở, theo bản đồ đo đạc năm 2014 thì thửa đất số 342, tờ bản đồ số 1 nay là thửa đất số 24, tờ bản đồ số 4. Ngày 29/12/2018 đã được UBND

3

huyện N cấp đổi lại GCNQSD đất mang tên ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị T1 diện tích 269,6m², trong đó 150m² đất ở và cấp luôn cả 100m² đất nhà thờ vào trong giấy chứng nhận QSD đất mang tên ông L, bà T1. Năm 2017 ông L xin dòng họ làm một ngôi nhà cấp 4 phía sau nhà thờ diện tích khoảng 40m², mục đích để hoàn thiện hồ sơ về chế độ chính sách liên quan đến gia đình ông L, bà T1. Khi xây ông L cam kết chỉ xây để đó chứ không có người ở, vì nhà ông L xây liền kề với nhà thờ dòng họ. Ông L cũng là thành viên của hội đồng gia tộc Nguyễn Hữu nên các thành viên dòng họ Nguyễn H1 đã đồng ý để vợ chồng ông L, bà T1 được xây dựng ngôi nhà cấp 4 phía sau nhà thờ. Đầu năm 2024 khi hội đồng gia tộc dòng họ Nguyễn H1 có ý định xây dựng lại nhà thờ dòng họ Nguyễn H1 thì ông Nguyễn Văn L không đồng ý và nói rằng không có đất nhà thờ, thửa đất số 24, tờ bản đồ số 4 đã được UBND huyện N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông L, bà T1 vào năm 2018. Vì vậy, ông Nguyễn Văn H thành viên dòng họ Nguyễn H1 tại xóm H, xã N, huyện N (nay là xã H), tỉnh Nghệ An khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện N (nay là xã H), tỉnh Nghệ An cấp ngày 29/12/2018 đối với thửa đất số 24, tờ bản đồ số 4 diện tích 269,6m², tại xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An mang tên ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị T1 do cấp cả 100m² đất của nhà thờ dòng họ N3 vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông L, bà T1.

- Buộc ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị T1 trả lại 100m² đất thuộc thửa đất số 24 nêu trên cho cộng đồng dòng họ Nguyễn H1 và công nhận quyền sử dụng đất đối với 100m² đất thuộc thửa đất số 24, tờ bản đồ số 4, tại xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An thuộc quyền sử dụng của cộng đồng dòng họ Nguyễn H1, để cộng đồng dòng họ Nguyễn H1 thực hiện các thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận QSD đất đối với 100m² đất thuộc thửa đất số 24 nêu trên theo quy định của pháp luật. Tại phiên Tòa nguyên đơn bổ sung yêu cầu ông L, bà T1 phải trả lại cho dòng họ Nguyễn Hữu diện tích 118,32m² thuộc thửa đất số 24.

Bị đơn ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị T1 và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông L1, bà T1 trình bày: Thửa đất số 24 (trước đây nằm trong thửa 342, tờ bản đồ số 1 (bản đồ 299), diện tích 269,6m², địa chỉ tại xóm H, xã N, huyện N (nay là xã H), tỉnh Nghệ An. Từ năm 1956 đến năm 1976, thửa đất có nguồn gốc của ông Nguyễn Văn T6 Thế cha của ông L quản lý, sử dụng ổn định để canh tác và sinh sống. Năm 1976, ông T6 đã tặng toàn bộ 269,6m² đó cho con trai là ông Nguyễn Văn Ln Lệ và con dâu là bà Nguyễn Thị T1Thợi, từ đó đến nay gia đình ông L đã ở ổn định, không tranh chấp, không lấn chiếm, phù hợp quy hoạch địa phương. Năm 2017 ông L, bà T1 xây dựng căn nhà 35m² do chính quyền hỗ trợ theo chính sách xây dựng để thờ cúng Liệt sỹ, người có công với cách mạng và cũng là nhà ở của ông L, bà T1 không có ai ngăn cản hay có ý kiến về việc xây nhà. Cũng năm 2017, vợ chồng anh H3, chị T2 là con trai, con dâu ông L, bà T1 xây dựng căn nhà hai tầng trên diện tích 137,6m² cũng không có ai có ý kiến gì. Năm 1997 thửa đất 342, tờ bản đồ số 1 đã được UBND huyện N đã cấp GCNQSD diện tích 150m² cho bà Nguyễn Thị T1, còn lại diện tích 119,9m² bao gồm nhà thờ vẫn do vợ chồng ông L sử dụng ổn định. Đầu năm 2018, vợ chồng ông L đã làm hồ sơ, cấp lại Giấy chứng nhận QSD đất và

4

đo đạc thực địa, xin cấp đổi giấy chứng nhận theo đúng quy định tại UBND xã N, Văn phòng đăng ký đất đai huyện N. Ngày 29/12/2018 được UBND huyện N cấp đổi lại Giấy chứng nhận QSD đối với thửa đất số 342, tờ bản đồ số 1 (bản đồ 299) nay là thửa số 24, tờ bản đồ số 4 diện tích 269,6m² mang tên ông Nguyễn Văn Ln Lệ, bà Nguyễn Thị T1Thợi, tại xóm B (xóm H) xã N, huyện N (nay là xã H), tỉnh Nghệ An. Toàn bộ các thủ tục đo đạc, lấy ý kiến khu dân cư, xác nhận ranh giới và giấy tờ liên quan đều được các cơ quan chức năng cấp xã/huyện kiểm tra, phê duyệt, hoàn thành đúng trình tự pháp luật. Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H, ông L, bà T1 có ý kiến: Nhà thờ được xây dựng vào năm 1991, có diện tích 29,6m² nằm gọn trong thửa đất số 24, diện tích 269,9m², dòng họ N không có đất nhà thờ riêng biệt mà được xây trên đất của các chi trưởng hoặc tộc trưởng, ông L với tư cách là tộc trưởng, cho xây dựng nhà thờ trên đất của mình từ năm 1991 là thể hiện sự đóng góp và chăm lo cho dòng họ, không làm thay đổi quyền sử dụng đất hợp pháp của gia đình ông. Ngoài ra không có bất cứ văn bản, quyết định nào của UBND xã, huyện công nhận dòng họ có 100m² đất là tài sản chung của toàn dòng họ và đất dòng họ cũng chưa được cấp Giấy chứng nhận QSD đất, sổ mục kê có ghi “đất nhà thờ" chỉ là hồ sơ địa chính ghi nhận hiện trạng kê khai, không phải văn bản pháp lý xác lập quyền sở hữu chung của dòng họ. Việc khởi kiện của ông Nguyễn Văn H xâm phạm đến căn nhà 35m² được Nhà nước hỗ trợ, xây dựng để thờ cúng Liệt sỹ, người có công với cách mạng và cũng là nhà ở của ông L, bà T1.

Về quyền lợi hợp pháp của ông L, bà T1: Việc Dòng họ ủy quyền khởi kiện là không đúng theo quy định của Nghị quyết số 01/2020 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, nguyên đơn phải do các cá nhân thành viên làm nguyên đơn. Trong đơn khởi kiện ghi rõ người khởi kiện là cộng đồng dân cư dòng họ Nguyễn H1, địa chỉ: xóm H, xã N, Huyện N, tỉnh Nghệ An. Trong thông báo thụ lý vụ án số 238/2024/TB-TLST ngày 09/10/2024 Tòa án đã xác định dòng họ Nguyễn H1 là nguyên đơn nhưng không có các ủy quyền, biên bản, nghị quyết hay quyết định về việc chi họ, dòng họ cử ông H khởi kiện tại Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Vì những lẽ trên, ông L, bà T1 đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, xem xét lại tư cách đương sự của ông Nguyễn Văn H, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, công nhận quyền sử dụng hợp pháp thửa đất 269,6m² (thửa đất số 24, tờ bản đồ 04) cho ông Nguyễn Văn Ln Lệ và bà Nguyễn Thị T1Thợi.

Vợ chồng anh Nguyễn Văn H3 và chị Nguyễn Thị T2: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thông báo, gửi các văn bản tố tụng nhiều lần nhưng vợ chồng anh H3, chị T2 không có ý kiến gì. Thông qua ông Nguyễn Văn L, vợ chồng anh H3, chị T2 đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt.

Đối với UBND huyện N và UBND xã N (nay là xã H, tỉnh Nghệ An): Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thông báo, gửi các văn bản tố tụng và yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ nhiều lần nhưng UBND huyện N và UBND xã N không cử người tham gia tố tụng và cũng không có ý kiến gì về vụ án.

5

Kết quả thẩm định, định giá ngày 06 tháng 3 năm 2025 về thửa đất số 24, tờ bản đồ số 4 diện tích 269,6m² tại xóm B (nay là xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An có giá như sau:

- Theo giá quy định của Nhà nước 1.000.000 đồng/m²; theo giá thị trường 6.000.000 đồng/m².

- Tài sản trên thửa đất: 01 nhà bán mái lợp tôn chống nóng do vợ chồng ông L, bà T1 xây dựng năm 2017, trị giá 41.375.000 đồng; 01 ngôi nhà thờ của dòng họ Nguyễn H1 xây dựng mới năm 1991, diện tích 29,6m²; 01 ngôi nhà 02 tầng của vợ chồng anh H3, chị T2 xây dựng năm 2017, các đương sự thống nhất không tiến hành định giá.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và những người tiến hành tố tụng từ khi thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa đã thực hiện đúng quy định Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định, đảm bảo quyền lợi nghĩa vụ của họ.

Về nội dung: Tại phiên tòa ngày 27 tháng 6 năm 2025, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, hủy Giấy chứng nhận QSD đất của UBND huyện N, tỉnh Nghệ An cấp ngày 29/12/2018 đối với thửa đất số 24, tờ bản đồ số 4, diện tích 269,6m² mang tên, ông L, bà T1; buộc ông L, bà T1 trả lại cho dòng họ Nguyễn Hữu diện tích đất và nhà thờ trên đất. Các đương sự phải chịu án phí, chi phí tố tụng theo quy định. Tại phiên tòa ngày 01/7/2025, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An, thay đổi quan điểm, đề nghị Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa để yêu cầu cơ quan kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng cử người tham gia tố tụng và có quan điểm về vụ án sau khi chấm dứt hoạt động và sáp nhập từ ngày 01/7/2025.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Ông Nguyễn Văn H thành viên dòng họ Nguyễn H1 tại xóm H, xã N (gọi dòng họ N) khởi kiện yêu cầu tuyên hủy Giấy chứng nhận QSD đất do UBND huyện N cấp ngày 29/12/2018 đối với thửa đất số 24, tờ bản đồ số 4, diện tích 269,6m², xóm H, xã N, huyện N (nay là xã H), tỉnh Nghệ An mang tên ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị T1 và yêu cầu ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị T1 phải trả lại 100m² đất cho dòng họ Nguyễn H1 thuộc thửa đất nêu trên. Căn cứ khoản 5 Điều 26, khoản 4 Điều 34, Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy quyết định cá biệt” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Tại phiên tòa một số người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng đã được triệu tập hợp lệ và có đơn xin xét xử vắng mặt.

Từ ngày 01 tháng 7 năm 2025 các đơn vị UBND cấp huyện giải thể; UBND cấp xã, phường sáp nhập. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 8 Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc xác định cơ quan, tổ chức kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 5 và khoản 1 Điều 23 của Nghị định số 151/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 của Chính phủ về việc phân định thẩm quyền

6

của chính quyền 02 cấp. Hội đồng xét xử xác định UBND xã H, tỉnh Nghệ An là cơ quan kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng, tiếp tục thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Mặt khác, vụ án đã được xét xử, các bên đương sự đã tiến hành tranh tụng công khai tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đã phát biểu quan điểm ngày 27/6/2025 và Hội đồng xét xử kéo dài thời gian nghị án, do đó, việc tạm ngừng phiên tòa như ý kiến của Kiểm sát viên là không cần thiết. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 8 của Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Xét các nội dung yêu cầu của ông Nguyễn Văn H thành viên của dòng họ Nguyễn H1 tại xóm H, xã N, huyện N (nay là xã H), tỉnh Nghệ An:

[2.1] Đối với yêu cầu hủy Giấy chứng nhận QSD đất số CM 965483 do UBND huyện N cấp ngày 29/12/2018 đối với thửa đất số 24, tờ bản đồ số 4, diện tích 269,6m² tại xóm B (nay là xóm H) xã N, huyện N (nay là xã H), tỉnh Nghệ An mang tên ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị T1, thấy rằng: Trong quá trình giải quyết vụ án các thành viên dòng họ Nguyễn H1 và vợ chồng ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị T1 đều xác định và thừa nhận, trên thửa đất số 24, tờ bản đồ số 4, tại xóm H, xã N, huyện N (nay là xã H), tỉnh Nghệ An có một ngôi nhà thờ của dòng họ Nguyễn H1 có từ trước những năm 1976 và được các thành viên dòng họ đóng góp xây dựng, tôn tạo lại từ năm 1991. Ngôi nhà thờ là nơi thờ cúng tổ tiên, ông cha từ nhiều đời (khoảng trên 200 năm) trải qua 09 đời họ Nguyễn Hữu.

Vợ chồng ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị T1 cho rằng; thửa đất số 24, tờ bản đồ số 4, diện tích 269,6m² có nguồn gốc của cụ Nguyễn Văn T6 bố ông L tạo lập sử dụng từ năm 1956. Năm 1976, cụ T6 đã tặng cho vợ chồng ông L, bà T1 toàn bộ thửa đất 269,6m² và ngôi nhà thờ dòng họ N3 là do vợ chồng ông L, bà T1 xây dựng năm 1991 đề làm nơi thờ cúng ông, cha, nhưng ông L, bà T1 không có tài liệu, chứng cứ để chứng minh.

Mặt khác, căn cứ bản đồ đo đạc, số mục kê, sổ địa chính qua các thời kỳ cùng các tài liệu có tại hồ sơ vụ án thể hiện, thửa đất số 342, tờ bản đồ số 1 chủ sử dụng là bà Nguyễn Thị T1 có 150m² đất ở và 100m² đất nhà thờ họ. Tại Giấy chứng nhận QSD đất số I 634276 ngày 21/7/1997, UBND huyện N cấp mang tên cho bà Nguyễn Thị T1 đối với thửa đất số 342, tờ bản đồ số 1, diện tích 150m² đất ở, tại xóm B, xã N, huyện N (nay là xã H), tỉnh Nghệ An. Quá trình đo đạc theo bản đồ địa chính năm 2014 và kê khai lại, ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị T1 đã kê khai toàn bộ diện tích đất ở và phần diện tích đất có ngôi nhà thờ họ đề nghị UBND huyện N cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông L, bà T1 diện tích 269,6m² trong đó bao gồm 150m² đất ở của ông T1, bà L và 100m² đất có ngôi nhà thờ họ mà không được sự thống nhất của các thành viên dòng họ Nguyễn Hữu. Tại Bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 17/02/2014 (B1, 09) cũng xác định lý do nhà thờ họ Nguyễn không đồng ý “tranh chấp”. Do đó, việc UBND huyện N cấp Giấy chứng nhận QSD đất đối với thửa đất số 24, tờ bản đồ số 4 diện tích 269,6m² cho ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị T1, trong đó có cả diện tích đất và ngôi nhà thờ dòng họ Nguyễn H1

7

tại xóm B (nay xóm H) xã N huyện N (nay là xã H), tỉnh Nghệ An là không đúng thực tế, thực trạng sử dụng đất. Bởi vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn H thành viên dòng họ Nguyễn H1 về việc hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM965483 của UBND huyện N cấp ngày 29/12/2018 đối với thửa đất số 24, tờ bản đồ số 4, diện tích 269,6m² tại xóm B (nay là xóm H) xã N, huyện N (nay là xã H), tỉnh Nghệ An, mang tên Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị T1 là có căn cứ cần được chấp nhận.

[2.2] Xét yêu cầu về việc buộc ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị T1 phải trả lại 118,32m² thuộc thửa đất số 24, tờ bản đồ số 4, tại xóm H, xã N cho dòng họ N, thấy rằng: Như các nội dung phân tích, đánh giá, nhận định tại mục [2.1], có đủ căn cứ xác định; thửa đất số 24, tờ bản đồ số 4, diện tích 269,6m² tại xóm B (nay là xóm H) xã N, huyện N (nay là xã H), tỉnh Nghệ An có một phần diện tích có nguồn gốc thuộc quyền sử dụng của dòng họ Nguyễn Hữu. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa thành viên họ Nguyễn H1 và vợ chồng ông L, bà T1 cũng xác định và thừa nhận, ông Nguyễn Văn L là tộc trưởng của dòng họ, ngôi nhà thờ được hình thành có từ lâu (trước năm 1976) và các thành viên đóng góp xây dựng, tôn tạo lại từ năm 1991 để hàng năm con cháu quy tụ tế lễ tổ tiên theo phong tục, tập quán, truyền thống của người Việt. Tại sổ mục kê, sổ theo dõi sử dụng đất của gia đình ông L, bà T1 đều xác định 100m² đất nhà thờ họ. Năm 2017, vợ chồng anh H3, chị T2 (con ông L, bà T1) xây dựng căn nhà 02 tầng và vợ chồng ông L, bà T2 xây dựng ngôi nhà cấp bốn trên thửa đất các thành viên trong họ biết nhưng không có ý kiến gì. Căn cứ thực trạng, thực tế và các ngôi nhà, các công trình trên đất của vợ chồng ông L, bà T1 và của vợ chồng anh H3, chị T2 xây dựng kiên cố trên đất, nếu phải tháo dỡ sẽ gây thiệt hại rất lớn về tài sản. Hơn nữa, vợ chồng ông L, bà T1 sống trên thửa đất từ trước đến nay, có công sức trong việc quản lý, tôn tạo, giữ gìn đối với phần diện tích đất, nay trả lại đất cho dòng họ cũng cần trích một phần công sức bằng đất (cụ thể là 19,7m²). Để đảm bảo khuôn viên nhà thờ phù hợp, cần chấp nhận một phần nội dung yêu cầu của ông Nguyễn Văn H đại diện các thành viên dòng họ Nguyễn H1, buộc ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị T1 phải giao trả lại cho dòng họ Nguyễn H1 tại xóm H (xóm B), xã N, huyện N (nay là xã H), tỉnh Nghệ An 80,3m² và ngôi nhà thờ, vật kiến trúc trên phần diện tích đất phải giao trả, thuộc thửa đất số 24, tờ bản đồ 4, diện tích 269,6m² tại xóm B, xã N, huyện N (nay là xã H), tỉnh Nghệ An. Ông Nguyễn Văn H thành viên dòng họ Nguyễn H1 phải tháo dỡ phần trụ cổng nhà thờ để tạo lối vào nhà cho ông L, bà T1.

(Phần diện tích đất có sơ đồ phác họa kèm theo)

Sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật, các đương sự có quyền và nghĩa vụ đến Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền làm các thủ tục đăng ký, kê khai để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.

Quyền và nghĩa vụ của các thành viên khác của dòng họ Nguyễn H1 tại xóm H (xóm B), xã N, huyện N (nay là xã H), tỉnh Nghệ An chưa tham gia tố tụng sẽ được giải quyết bằng vụ kiện khác khi có yêu cầu.

8

[3] Về án phí sơ thẩm: Yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H (thành viên dòng họ N) được chấp nhận, tuy nhiên vợ chồng ông L, bà T1 là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

[4] Về chi phí tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn yêu cầu đã nộp tạm ứng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ tài sản và định giá tài sản tranh chấp. Tại phiên tòa nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ, đã thực hiện xong không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 229; khoản 1 Điều 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 2 Điều 193 của Luật Tố tụng hành chính.

Áp dụng khoản 7 Điều 166, Điều 203 Luật Đất đai; Điều 164, khoản 1 Điều 166, Điều 274, Điều 280 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 10, Điều 100, Điều 203 Luật đất đai; Nghị quyết số 01/2020/NQ-HĐTP ngày 05 tháng 3 năm 2020 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về việc giải quyết tranh chấp về tài sản chung của dòng họ; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H (thành viên dòng họ N).

Tuyên xử:

  1. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CM 965483 ngày 29/12/2018 của UBND huyện N, tỉnh Nghệ An đối với thửa đất số 24, tờ bản đồ 4, diện tích 269,6m² tại xã X, xã N, huyện N (nay là xã H), tỉnh Nghệ An mang tên ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị T1.
  2. Buộc ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị T1 phải giao trả lại cho dòng họ Nguyễn H1 tại xóm H (xóm B), xã N, huyện N (nay là xã H), tỉnh Nghệ An 80,3m² và ngôi nhà thờ, vật kiến trúc trên phần diện tích đất phải giao trả, thuộc thửa đất số 24, tờ bản đồ 4, diện tích 269,6m² tại xóm B, xã N, huyện N (nay là xã H), tỉnh Nghệ An.

Dòng họ Nguyễn H1 tại xóm H (xóm B), xã N, huyện N (nay là xã H), tỉnh Nghệ An được quyền sử dụng diện tích 80,3m² đất và ngôi nhà thờ, vật kiến trúc trên phần diện tích đất được giao, thuộc thửa đất số 24, tờ bản đồ 4, diện tích 269,6m² tại xóm B, xã N, huyện N (nay là xã H), tỉnh Nghệ An.

Phần diện tích đất có tứ cận: Phía Nam giáp đường giao thông có độ dài 0,23m + 7,17m + 0,31m; phía Bắc giáp phần đất có nhà ông L, bà T1 có độ dài 7,43m; phía Tây giáp phần đất nhà ông L, bà T1 và anh H3, chị T2 có độ dài 7,79m; phía Đông giáp thửa đất số 23 có độ dài 1,53m + 0,67m + 3,23m + 0,93m + 0,08m + 4,21m + 0,08m + 1,20m.

Ông Nguyễn Văn H (thành viên dòng họ Nguyễn H1) phải tháo dỡ phần trụ cổng và tài sản trên đất trả lại lối đi vào nhà ông L, bà T1.

9

Quyền sử dụng đất và các tài sản, vật kiến trúc tọa lạc trên diện tích đất 80,3m² thuộc thửa đất số 24, tờ bản đồ 4, diện tích 269,6m² tại xóm B, xã N, huyện N (nay là xã H), tỉnh Nghệ An được giao cho dòng họ Nguyễn H1 tại xóm H (xóm B), xã N, huyện N (nay là xã H), tỉnh Nghệ An là tài sản sở hữu chung hợp nhất không phân chia.

Ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị T1 và vợ chồng anh Nguyễn Văn H3, chị Nguyễn Thị T2 là những người đang quản lý, sử dụng thửa đất có nghĩa vụ phải giao đất cho dòng họ Nguyễn Hữu khi bản án có hiệu lực pháp luật.

(phần diện tích đất có sơ đồ phác họa kèm theo Bản án).

Các đương sự có quyền và nghĩa vụ đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền làm các thủ tục để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, 7a và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

  1. Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị T1.
  2. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án lên Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương vắng mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Các đương sự;
  • - THADS tỉnh Nghệ An;
  • - Lưu HSVA+VPTA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Phấn

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 79/2025/DS - ST ngày 01/07/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy quyết định cá biệt

  • Số bản án: 79/2025/DS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy quyết định cá biệt
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 01/07/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn Nguyễn Văn Hiếu, bị đơn Nguyễn Văn Lệ về việc Tranh chấp QSD đất
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger