TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 79/2025/DS- PT Ngày 30-5-2025 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
-Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Triệu Thị Luyện.
Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Tú, bà Nguyễn Thị Hằng
-Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Mỹ Hạnh– Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang: Ông Lương Thất Tùng – Kiểm sát viên.
Trong ngày 30/5/2025 tại điểm cầu trực tuyến Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang và điểm cầu thành phần Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm trực tuyến công khai vụ án dân sự thụ lý số 46/2025/TLPT-DS ngày 18/4/2025 về việc“Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 10/2025/DS-ST ngày 14 tháng 3 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 61/2025/QĐ-PT ngày 08/5/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 78/2025/QĐ-PT ngày 20/5/2025 giữa:
Nguyên đơn: Anh Bùi Văn T, sinh năm 1974 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn Đ, xã D, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của anh Bùi Văn T: Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1978, địa chỉ: Thôn Đ, xã D, huyện H, tỉnh Bắc Giang(Văn bản ủy quyền ngày 16/5/2025 - có mặt)
Bị đơn: Anh Hà Danh T1, sinh năm 1983 (có mặt)
Địa chỉ: Thôn P, xã Đ, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1978 (vợ anh T - có mặt)
- Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1986 (vợ anh T1 - vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn Đ, xã D, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: P, xã Đ, huyện H, tỉnh Bắc Giang
* Người kháng cáo: Bị đơn - anh Hà Danh T1, sinh năm 1983
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án dân sự sơ thẩm số 10/2025/DS-ST ngày 14 tháng 3 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang, tài liệu có trong hồ sơ, vụ án có nội dung như sau:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 19/6/2024 và đơn khởi kiện bổ sung ngày 15/10/2024, những lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Bùi Văn T trình bày:
Do có mối quan hệ quen biết, vợ chồng anh nhiều lần cho anh Hà D Tuyên vay tiền, mục đích vay tiền để chăn nuôi phát triển kinh tế gia đình. Đến ngày 25/01/2017 dương lịch, thì hai bên chốt số tiền anh T1 còn nợ là 80.000.000đồng, hai bên có viết giấy chốt nợ đề ngày 25/01/2017 dương lịch, hai bên thỏa thuận lãi 2%/tháng, thời hạn trả nợ đến ngày 25/05/2017 thì trả. Anh xác định chữ viết tại giấy chốt nợ và chữ ký “Hà Danh T1” là do anh T1 viết và ký. Kể từ ngày chốt nợ thì anh T1 đã trả được số tiền lãi đến tháng 12 năm 2017, còn từ ngày 01/01/2018 anh đã đòi nhiều lần, anh T1 không trả được số tiền gốc và lãi nào. Anh xác định đây là nợ chung của vợ chồng anh T1 và là tài sản chung của vợ chồng anh. Nay anh yêu cầu vợ chồng anh T1 trả cho vợ chồng anh số tiền còn nợ là 80.000.000 đồng và lãi 10%/năm tính từ ngày 01/01/2018 dương lịch cho đến khi xét xử sơ thẩm.
Tại phiên tòa sơ thẩm, chị M xác định anh T1 đã trả được số tiền 2.000.000 đồng tiền gốc, nay anh T1 còn nợ số tiền gốc là 78.000.000 đồng và xin thay đổi thời gian tính lãi, cụ thể đề nghị tính lãi của số tiền gốc 78.000.000 đồng tính từ ngày 25/01/2018 cho đến ngày xét xử sơ thẩm 14/3/2025 là 7 năm 01 tháng 17 ngày. Chị M chỉ yêu cầu thời gian tính lãi là 7 năm 01 tháng.
Bị đơn anh Hà Danh T1 trình bày: Do có mối quan hệ quen biết, anh có nhiều lần vay tiền của gia đình anh T, mục đích vay tiền để chăn nuôi phát triển kinh tế gia đình. Đến ngày 25/01/2017 dương lịch thì hai bên có chốt số tiền còn nợ là 80.000.000 đồng, hai bên có viết giấy chốt nợ đề ngày 25/01/2017 dương lịch, hai bên thỏa thuận lãi 1.000 đồng/1 triệu/1 ngày, thời hạn trả nợ đến ngày 25/05/2017 thì trả. Anh xác định chữ viết tại giấy chốt nợ và chữ ký “Hà Danh T1” là do anh viết và ký. Kể từ ngày chốt nợ thì anh đã trả được số tiền lãi đến tháng 12 năm 2017, còn từ ngày 01/01/2018 cho đến nay thì anh chưa trả được thêm khoản tiền lãi nào. Về tiền gốc thì anh cũng chưa trả được. Khi trả lãi thì anh trả bằng tiền mặt, không bằng văn bản. Anh xác định đây là nợ riêng của cá nhân anh, không liên quan đến vợ là Nguyễn Thị Phàn .
Nay vợ chồng anh T yêu cầu vợ chồng anh trả cho vợ chồng anh Thuật số tiền còn nợ là 80.000.000đồng và lãi 10%/năm tính từ ngày 01/01/2018 dương lịch cho đến khi xét xử sơ thẩm thì anh xác định là nợ riêng cá nhân anh, và anh đồng ý trả số tiền gốc 80.000.000 đồng, còn số tiền lãi thì anh xin được miễn vì lý do hiện nay hoàn cảnh khó khăn, do làm ăn vỡ nợ.
Tại phiên tòa sơ thẩm, anh T1 xác định đã trả được số tiền gốc 2.000.000 đồng và xác định còn nợ số tiền gốc là 78.000.000 đồng, anh đồng ý trả số tiền gốc, xin tiền lãi. Đối với số tiền lãi anh đã trả từ ngày vay đến tháng 12 năm 2017 anh không có ý kiến gì. Anh xác định là nợ riêng của anh vì vợ anh không được biết và không được sử dụng số tiền trên.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị M nhất trí với phần trình bày của anh T.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị P trình bày: Chị không biết việc anh T1 vay mượn,chị xác định là nợ riêng của anh T1, chị xin được vắng mặt tại phiên tòa.
Với nội dung nêu trên, Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2024/DS-ST ngày 14/3/2025 của Toà án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang đã quyết định:
Căn cứ Điều 26; Điều 35; Điều 39; khoản 3 Điều 144; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227;Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự
Căn cứ Điều 463; Điều 465; Điều 466; Điều 468; Điều 469 của Bộ luật dân sự
Căn cứ Điều 27; Điều 37 - Luật Hôn nhân và gia đình
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Văn T: Buộc vợ chồng anh Hà Danh T1 và chị Nguyễn Thị P có nghĩa vụ liên đới trả cho vợ chồng ông Bùi Văn T và bà Nguyễn Thị M số tiền gốc là 78.000.000 đồng, lãi là 55.250.000đồng. Tổng cả gốc và lãi là 133.250.000 đồng.
- Về án phí dân sự: Anh Hà Danh T1 và chị Nguyễn Thị P có nghĩa vụ liên đới chịu 6.662.500 đồng (Sáu triệu, sáu trăm sáu mươi hai nghìn, năm trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
Hoàn trả ông Bùi Văn T số tiền tạm ứng án phí đã nộp 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) theo biên lai số 0004223 ngày 21/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
Ngoài ra, bản án còn tuyền quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 26/3/2025 anh Hà Danh T1 nộp đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị sửa bản án sơ thẩm tuyên buộc một mình anh Hà D Tuyên trả nợ chị M số tiền 78.000.000đồng, không buộc vợ là Nguyễn Thị P trả nợ cùng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đồng thời là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan – chị Nguyễn Thị M trình bày: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, xác định số tiền 78 triệu đồng khởi kiện vợ chồng anh T1 trả là số tiền 100 triệu đồng cho anh T1 vay vào ngày 19/02/2015 và ngày 25/3/2015, đến ngày 25/02/2016 anh T1 mới trả được 20 triệu đồng còn nợ lại 80 triệu đồng hẹn ngày 25/4/2016 sẽ trả hết nhưng sau đó anh T1 không trả nợ theo cam kết nên ngày 25/01/2017 anh T1 đã viết giấy xác nhận còn nợ vợ chồng chị số tiền 80 triệu đồng, hẹn ngày 25/5/2017 trả số tiền trên. Số tiền vay là nợ chung vợ chồng anh T1 vì mục đích vay để anh T1 chăn nuôi phát triển kinh tế gia đình, việc này anh T1 đã thừa nhận ở Tòa sơ thẩm.
- Bị đơn – Anh Hà Danh T1 trình bày: Anh T1 kháng cáo đề nghị sửa bản án sơ thẩm, không buộc vợ là chị Nguyễn Thị P phải trả nợ cùng vì đây là nợ riêng cá nhân anh T1, không phải nợ chung vợ chồng, mục đích vay không phải để chăn nuôi, phát triển kinh tế mà để đầu tư chứng khoán, hợp đồng vay chỉ có chữ ký của anh T1 không có chữ ký của vợ.
Trước ngày 25/01/2017 (không nhớ ngày cụ thể) anh T1 có vay anh T chị M số tiền 100 triệu, mục đích vay để đầu tư chứng khoán, số tiền vay này đã trả hết vào ngày 25/02/2016. Đến ngày 25/01/2017 anh T1 vay anh T chị M 80.000.000đồng để đầu tư chứng khoán, đến ngày 25/3/2017 đã trả được 50 triệu đồng, sau đó trả thêm được 2.000.000đồng, việc trả tiền không có giấy tờ gì.Anh T1 xác định chỉ còn nợ số tiền 28 triệu đồng. Lý do anh T1 còn nợ anh T chị M số tiền 28 triệu đồng nhưng ngày 25/01/2017 lại viết, ký giấy chốt nợ số tiền 80 triệu đồng do thiếu hiểu biết. Lý do ở cấp sơ thẩm trình bày còn nợ anh T, chị M số tiền 78 triệu đồng là do nhớ nhầm. Lời khai tại Tòa án sơ thẩm là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang và các đương sự đã chấp hành đầy đủ các trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự: Không Chấp nhận kháng cáo của anh Hà Danh T1, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang:
+ Về án phí dân sự phúc thẩm: Anh T1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng có người đại diện theo ủy quyền tham gia phiên tòa. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị P đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là có căn cứ theo Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét kháng cáo của bị đơn, Hội đồng xét xử thấy:
[2] Tại bản gốc giấy xác nhận nợ ngày 25/01/2017 do nguyên đơn cung cấp ghi nội dung: “Hôm nay ngày 25/01/2017 em T1 còn nợ anh chị số tiền gốc là 80.000.000đồng, hẹn anh chị đến ngày 25/5/2017 sẽ thanh toán cho anh chị số tiền trên- Người vay tiền – Hà Danh T1”. Anh T1 xác nhận nội dung nêu trên là do anh T1 viết ký.
[3] Tại phiên tòa phúc thẩm, anh T1 khai số tiền 80.000.000đồng ghi trong giấy ngày 25/01/2017 là tiền anh T1 vay anh T, chị M vào ngày 25/01/2017, không phải là khoản tiền còn nợ của khoản vay ngày 25/3/2015 và ngày 25/02/2016; số tiền này anh T1 đã trả được 50.000.000 đồng vào ngày 25/3/2017 nên chỉ còn nợ 28.000.000đồng. Lời khai của anh T1 tại phiên tòa phúc thẩm mâu thuẫn với lời khai của anh T1 trong quá trình giải quyết tại Tòa án cấp sơ thẩm (tại Tòa án sơ thẩm anh T1 xác định còn nợ số tiền gốc là 78.000.000 đồng, đồng ý trả số tiền gốc, xin tiền lãi), mâu thuẫn với nội dung do anh T1 viết, ký xác nhận tại giấy nhận nợ ngày 25/01/2017. Anh T1 cho rằng đã trả anh T, chị M số tiền 50.000.000đồng vào ngày 25/3/2017 nhưng anh T, chị M không thừa nhận, anh T1 không cung cấp được giấy tờ, chứng cứ chứng minh đã trả anh T, chị M số tiền 50.000.000đồng. Do vậy, anh T1 cho rằng chỉ còn nợ anh T chị M số tiền nợ gốc 28.000.000đồng là không có căn cứ.
[4] Tại giấy xác nhận nợ ghi ngày 25/01/2017 anh T1 cam kết ngày 25/5/2017 trả anh T, chị M số tiền 80.000.000đồng. Tuy nhiên, đến thời hết thời hạn nêu trên anh T1 không trả anh T chị M khoản tiền này là vi phạm nghĩa vụ như đã cam kết nên anh T, chị M yêu cầu trả tiền lãi kể từ ngày 25/01/2018 đến ngày xét xử sơ thẩm,mức lãi suất 10%/năm là có căn cứ theo Điều 463; Điều 466; Điều 468; Điều 469 Bộ luật dân sự.
[5] Mặc dù giấy vay tiền không có chữ ký của chị Nguyễn Thị P là vợ anh Hà Danh T1 nhưng thời điểm vay tiền anh T1 và chị P là vợ chồng hợp pháp, mục đích vay tiền để phát triển kinh tế gia đình. Căn cứ Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình xác định số tiền anh T1 vay anh T- chị M là khoản nợ chung của anh T1 - chị P.
[6] Từ những phân tích và căn cứ nêu trên thấy Tòa án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ theo Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 469 Bộ luật dân sự; Điều 27, Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình. Tại cấp phúc thẩm, bị đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào khác nên Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang.
[7] Về án phí dân sự phúc thẩm: Anh Hà Danh T1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo khoản 1 Điều 148; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của anh Hà Danh T1, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 10/2025/DS-ST ngày 14/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 148; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Anh Hà Danh T1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0004525 ngày 26/3/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hiệp Hòa. Xác nhận anh T1 đã nộp đủ tiền án phí dân sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Triệu Thị Luyện |
Bản án số 79/2025/DS-PT ngày 30/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 79/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa anh T và anh T
