Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

Bản án số: 79/2024/DS-ST

Ngày: 22/7/2024.

(V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng)

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thủy

Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hạnh.

Ông Nguyễn Đình Hiền.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoa là Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà đông.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông: Bà Nguyễn Thanh Hương – Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 22 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông xét xử công khai sơ thẩm vụ án Dân sự thụ lý số : 118/2023/TLST-DS ngày 01/11/2023 về việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2024/QĐXX–ST ngày 26/6/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 24/2024/QÐST-DS ngày 15/7/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V.

Trụ sở: Số H L, phường L, quận Đ, Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D –Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Tuấn A– Phó giám đốc Trung tâm xử lý nợ pháp lý, theo văn bản uỷ quyền số 25/2020/UQ-HĐQT ngày 07/07/2020 của Chủ tịch HĐQTNgân hàng TMCP Việt Nam V.

Người đại diện tham gia tố tụng: Ông Lê Thành L, ông Ngô Văn P, ông Nguyễn Huy H ( theo văn bản ủy quyền số: 1586A/2022/UQ-VPB ngày 28/10/2022). Có mặt ông Nguyễn Huy H.

- Bị đơn:

  1. Ông Đỗ Công Đ, sinh năm 1983.

    Địa chỉ : Số B, Ngõ N, tổ dân phố A, phường P, quận H, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

  2. Bà Đỗ Nhật N, sinh năm 1990.

    Địa chỉ: Số A Hồ Đ, phường N, quận Đ, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Đỗ Công Đ1, sinh năm 1954.
  2. Anh Đỗ Công Đ2, sinh năm 1989.
  3. Chị Dương Thị Tuyết M, sinh năm 1990.
  4. Cháu Đỗ Tuệ A1, sinh năm 2019.

Cháu Đỗ Tuệ Al do anh Đỗ Công Đ2 và chị Dương Thị Tuyết M đại diện theo pháp luật.

Cùng địa chỉ: Số B, ngõ N, tổ dân phố A, phường P, quận H, thành phố Hà Nội. Đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Trong đơn khởi kiện ngày 08/12/2022 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn Ngân hàng TMCP V do ông Nguyễn Huy H đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngày 06/7/2020 Ngân hàng thương mại cổ phần V chi nhánh K (viết tắt là Ngân hàng ) và ông Đỗ Công Đ, bà Đỗ Nhật N có ký hợp đồng cho vay số: LN2007012528643. Theo nội dung hợp đồng thì Ngân hàng đồng ý cho ông ông Đỗ Công Đ và bà Đỗ Nhật N vay số tiền là 550.000.000 đồng ; Mục đích vay là vay tiêu dùng mua sắm nội thất gia đình; Thời hạn vay là 108 tháng tính từ ngày tiếp theo của bên Ngân hàng giải ngân vốn vay đầu tiên cho bên vay; Lãi suất cho vay trong hạn, quá hạn theo quy định tại Điều 6 của Hợp đồng cho vay. Sau khi ký hợp đồng thì ngày 10/7/2020 Ngân hàng đã giải ngân khoản vay trên cho ông Đ và bà N với số tiền là 550.000.000 đồng.

Để đảm bảo cho khoản vay trên của ông Đ và bà N thì ông Đỗ Công Đ1 là bố đẻ ông Đ đã đồng ý dùng tài sản của mình để thế chấp cho Ngân hàng theo Hợp đồng thế chấp tài sản công chứng số 2500/2020; quyển số 03-2020 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 06/07/2020 tại Văn phòng C, địa chỉ số A phố D, phường D, quận C, Thành phố Hà Nội. Theo nội dung hợp đồng thế chấp thì ông Đ1 đồng ý thế chấp cho Ngân hàng T Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 35-1, tờ bản đồ số: 22; diện tích 89 m²; địa chỉ: Tổ dân phố A, phường P, quận H, thành phố Hà Nội; đã được cấp giấy chứng quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CU122310, số vào sổ cấp GCN: CS-HĐO 28965 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 15/01/2020 đứng tên ông Đỗ Công Đ1. Hợp đồng thế chấp trên đã được Công chứng tại Văn phòng C và đã được đăng kí giao dịch bảo đảm ngày 06/7/2020 tại Văn phòng Đ3 chi nhánh quận H.

Quá trình thực hiện hợp đồng thì ông Đ, bà N đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán kể từ ngày 15/4/2021.

Nay Ngân hàng xác định ông Đ, bà N còn nợ Ngân hàng số tiền tính đến ngày 22/7/2024 là 695.588.192 đồng, trong đó: Nợ gốc: 397.240.000 đồng; Lãi trong hạn là 13.425.756 đồng; lãi quá hạn là 245.518.956 đồng; Lãi phạt chậm thanh toán là 39.403.480, tổng lãi là 298.348.192 đồng và lãi phát sinh từ ngày 23/7/2024 trên nợ gốc chưa thanh toán cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ trên theo mức lãi suất hai bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Ngân hàng đề nghị ông Đ, bà N phải thanh toán toàn bộ nợ gốc và lãi nêu trên.

Trường hợp nếu ông Đ, bà N không thanh toán được khoản nợ nêu trên thì Ngân hàng có quyền tự mình hoặc yêu cầu Cơ quan thi hành án kê biên phát mại tài sản bảo đảm là: Toàn bộ Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 35-1, tờ bản đồ số: 22; diện tích 89 m² ; tại địa chỉ: Tổ dân phố A, phường P, quận H, thành phố Hà Nội; đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CU 122310, số vào sổ cấp GCN: CS-HĐO 28965 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H ngày 15/01/2020 đứng tên ông Đỗ Công Đ1, theo Hợp đồng thế chấp công chứng số 2500/2020; quyền số 03-2020 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 0607/2020 tại Văn phòng C, địa chỉ số A phố D, phường D, quận C, Thành phố Hà Nội để thu hồi nợ.

Trường hợp nếu phát mại tài sản thế chấp vẫn không đủ trả nợ thì ông Đ, bà N vẫn phải tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

Đối với chi phí tố tụng xem xét thẩm định tài sản thế chấp Ngân hàng tự nguyện nộp không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Ngân hàng đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Ngoài các vấn đề trên Ngân hàng không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề gì khác

*Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Đỗ Công Đ trình bày:

Ông Đ xác nhận ngày 06/7/2020 ông Đ cùng bà Đỗ Nhật N và Ngân hàng thương mại cổ phần V chi nhánh K (viết tắt là Ngân hàng) có ký hợp đồng cho vay số: LN2007012528643. Theo nội dung hợp đồng thì Ngân hàng đồng ý cho ông Đ, bà N vay số tiền là 550.000.000 đồng ; Mục đích vay là vay tiêu dùng mua sắm nội thất gia đình; Thời hạn vay là 108 tháng tính từ ngày tiếp theo của bên Ngân hàng giải ngân vốn vay đầu tiên cho bên vay; Lãi suất cho vay trong hạn, quá hạn theo quy định tại Điều 6 của Hợp đồng cho vay. Sau khi ký hợp đồng thì ngày 10/7/2020 Ngân hàng đã giải ngân khoản vay trên cho ông Đ, bà N với số tiền là 550.000.000 đồng.

Để đảm bảo cho khoản vay trên ông Đ và bà N có dùng tài sản của ông Đỗ Công Đ1 để thế chấp cho Ngân hàng theo Hợp đồng thế chấp tài sản công chứng số 2500/2020; quyển số 03-2020 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 06/07/2020 tại Văn phòng C, địa chỉ số A phố D, phường D, quận C, Thành phố Hà Nội. Theo nội dung hợp đồng thế chấp thì ông Đ1 đồng ý thế chấp cho Ngân hàng T Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 35-1, tờ bản đồ số: 22; diện tích 89 m²; địa chỉ: Tổ dân phố A, phường P, quận H, thành phố Hà Nội; đã được cấp giấy chứng quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CU122310, số vào sổ cấp GCN: CS-HĐO 28965 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 15/01/2020 đứng tên ông Đỗ Công Đ1. Hợp đồng thế chấp trên đã được Công chứng tại Văn phòng C và đã được đăng kí giao dịch bảo đảm ngày 06/7/2020 tại Văn phòng Đ3 chi nhánh quận H.

Nay ông Đ xác nhận còn nợ Ngân hàng số tiền tính đến ngày 26/6/2024 là 577.704.296 đồng, trong đó: Nợ gốc: 397,240,000 đồng; Lãi trong hạn là 13.425.756 đồng; lãi quá hạn là 226.369.811 đồng, tổng lãi là 239.795.567 đồng .

Nay Ngân hàng đề nghị ông Đ, bà N phải thanh toán toàn bộ nợ gốc và lãi nêu trên thì do hiện nay do điều kiện kinh tế khó khăn nên ông Đ đề nghị Ngân hàng cho ông Đ thanh toán số tiền nêu trên trong thời hạn 03 tháng, mỗi lần với số tiền thanh toán là 150.000.000 đồng cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ gốc và đề nghị Ngân hàng xem xét miễn giảm lãi cho ông Đ.

Về án phí: Ông Đ đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa ngày hôm nay:

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu ông Đỗ Công Đ và bà Đỗ Nhật N thanh toán toàn bộ khoản nợ nêu trên và không đồng ý lộ trình thanh toán như ông Đ đã đề nghị.

Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tham gia phiên Tòa có ý kiến phát biểu như sau:

Về tố tụng:

Quá trình tòa án tiến hành thụ lý vụ án cho đến khi đưa quyết định đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, thư ký đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật, tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử đã tiến hành tố tụng theo đúng các quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định của pháp luật; Bị đơn không chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Về thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án: Tòa án đã vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định tại Điều 203 của bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung:

Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông nhận định, đánh giá tính hợp pháp của Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp tài sản và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V, buộc ông Đỗ Công Đ và bà Đỗ Nhật N có trách nhiệm thanh toán trả cho Ngân hàng toàn bộ số tiền tính đến ngày 22/7/2024 là 695.588.192 đồng, trong đó: Nợ gốc: 397.240.000 đồng; lãi trong hạn là 13.425.756 đồng; lãi quá hạn là 245.518.956 đồng; Lãi phạt chậm thanh toán là 39.403.480, tổng lãi là 298.348.192 đồng và lãi phát sinh từ ngày 23/7/2024 trên nợ gốc chưa thanh toán cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ trên theo mức lãi suất hai bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn tuyên khi án có hiệu lực pháp luật nếu ông Đỗ Công Đ và bà Đỗ Nhật N không thanh toán được khoản nợ nêu trên thì Ngân hàng có quyền yêu cầu kê biên phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ; Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay bị đơn, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Vì vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 .

[2].Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là vụ án yêu cầu thanh toán tiền còn nợ theo hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng TMCP V với ông Đỗ Công Đ và bà Đỗ Nhật N là cá nhân vay pháp nhân với mục đích vay để tiêu dùng. Vì vậy xác định đây là tranh chấp dân sự được quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[3].Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Ông Đỗ Công Đ và bà Đỗ Nhật N khi ký hợp đồng tín dụng có cư trú tại: Số B, Ngõ N, tổ dân phố A, phường P, quận H, thành phố Hà Nội, sau này do mâu thuẫn vợ chồng nên bà N đã chuyển về sống tại: Số A Hồ Đ, phường N, quận Đ, thành phố Hà Nội. Vì vậy, căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án nêu trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.

[4]. Về nội dung:

[4.1] Xét yêu cầu thanh toán nợ gốc của Ngân hàng TMCP V đối với ông Đỗ Công Đ và bà Đỗ Nhật N. Hội đồng xét xử nhận thấy:

Căn cứ vào hợp đồng cho vay số: LN2007012528643 ngày 06/7/2020 và Hợp đồng thế chấp tài sản công chứng số 2500/2020; quyển số 03-2020 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 06/07/2020 tại Văn phòng C, địa chỉ: Số A phố D, phường D, quận C, Thành phố Hà Nội và đã được đăng kí giao dịch bảo đảm ngày 06/7/2020 tại Văn phòng Đ3 chi nhánh quận H. Ngày 10/7/2020 Ngân hàng đã giải ngân khoản vay cho ông Đỗ Công Đ với số tiền là 550.000.000 đồng.

Quá trình thực hiện hợp đồng thì ông Đ, bà N đã thanh toán được tổng số tiền là 232.338.424 đồng và sau đó vi phạm nghĩa vụ thanh toán kể từ ngày 15/4/2021.

Quá trình giải quyết vụ án ông Đ cũng đã xác nhận còn nợ Ngân hàng số tiền tính đến ngày 26/6/2024 là 577.704.296 đồng, trong đó: Nợ gốc: 397,240,000 đồng; Lãi trong hạn là 13.425.756 đồng; lãi quá hạn là 226.369.811 đồng, tổng lãi là 239.795.567 đồng, do hiện nay hoàn cảnh khó khăn nên ông Đ đề nghị Ngân hàng cho ông thanh toán trả dần nợ số tiền nợ trên trong thời hạn 03 tháng làm 03 lần, mỗi lần thanh toán là 150.000.000 đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ và đề nghị Ngân hàng xem xét miễn giảm lãi cho ông Đ, nhưng Ngân hàng không đồng ý với phương án thanh toán của ông Đ.

Căn cứ vào các Hợp đồng tín dụng, sự thừa nhận của các đương sự về số tiền gốc còn nợ Ngân hàng. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để xác nhận ông Đ, bà N còn nợ Ngân hàng số tiền nợ gốc theo Hợp đồng tín dụng nêu trên là 397.240.000 đồng ( ba trăm chín mươi bảy triệu, hai trăm bốn mươi nghìn đồng ). Việc Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Đ, bà N phải thanh toán trả Ngân hàng số tiền nợ gốc 397.240.000 đồng là có căn cứ chấp nhận và buộc ông Đ, bà N phải thanh toán trả cho Ngân hàng toàn bộ số tiền nợ gốc nêu trên.

[4.2]. Xét về yêu cầu thanh toán tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn, lãi chậm trả của Ngân hàng TMCP V đối với ông Đỗ Công Đ và bà Đỗ Nhật N. Hội đồng xét xử nhận thấy: Tại Điều 7 của hợp đồng cho vay số: LN2007012528643 ngày 06/7/2020 giữa Ngân hàng với ông Đ và bà N cũng đã thống nhất thoả thuận về lãi suất cho vay, lãi suất chậm trả đối chiếu với các quy định của pháp luật quy định về lãi suất cho vay mà Ngân hàng áp dụng đối với Hợp đồng tín dụng ký kết với ông Đ, bà N là phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận và buộc ông Đ, bà N phải thanh toán trả cho Ngân hàng số tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn và lãi chậm thanh toán tổng cộng là: 298.348.192 đồng.

[4.3].Xét yêu cầu đề nghị Tòa án tuyên khi bản án có hiệu lực pháp luật, nếu ông Đ, bà N không thanh toán trả cho Ngân hàng nợ gốc và nợ lãi thì Ngân hàng có quyền xử lý tài sản thế chấp hoặc yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên, phát mại tài sản bảo đảm của khoản vay để thu hồi toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng . Hội đồng xét xử xét thấy: Hợp đồng thế chấp tài sản ký kết ngày 06/7/2020 giữa bên thế chấp là ông Đỗ Công Đ1 và bên nhận thế chấp là Ngân hàng TMCP V đã được công chứng tại Văn phòng C, địa chỉ: Số A phố D, phường D, quận C, Thành phố Hà Nội số công chứng 2500/2020; quyển số 03-2020 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 06/07/2020 và đã được đăng kí giao dịch bảo đảm ngày 06/7/2020 tại Văn phòng Đ3 chi nhánh quận H theo đúng quy định của pháp luật. Theo nội dung Hợp đồng thế chấp nói trên ông Đ1 đã đồng ý thế chấp toàn bộ quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 35-1, tờ bản đồ số: 22; diện tích 89 m²; tại địa chỉ: Tổ dân phố A, phường P, quận H, thành phố Hà Nội; thửa đất này đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CU 122310, số vào sổ cấp GCN: CS-HĐO 28965 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H ngày 15/01/2020 đứng tên ông Đỗ Công Đ1 để thế chấp cho Ngân hàng đảm bảo cho khoản vay của ông Đ, bà N theo Hợp đồng tín dụng nêu trên. Như vậy có đủ căn cứ để xác nhận Hợp đồng thế chấp nêu trên có giá trị pháp lý, vì vậy yêu cầu của Ngân hàng đề nghị Tòa án tuyên khi án có hiệu lực pháp luật mà ông Đ, bà N không thực hiện nghĩa vụ thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm để đảm bảo thi hành án là có căn cứ nên được chấp nhận.

[5].Về chi phí tố tụng: Ghi nhận sự tự nguyện của Ngân hàng tự nguyện chịu cả chi phí tố tụng xem xét, thẩm định tài sản thế chấp và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên ghi nhận.

[6].Về án phí: Ngân hàng TMCP V không phải chịu án phí đối với các yêu cầu được chấp nhận. Ông Đ, bà N phải chịu án phí đối với các phần yêu cầu mà bên Ngân hàng TMCP V được chấp nhận theo quy định tại khoản 2 Điều 26 và mục 1 phần II danh mục án phí ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

[7].Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về hướng giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 271; Điều 273; Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ vào Điều 91; Điều 95 Luật tổ chức tín dụng (Đã được sửa đổi bổ sung năm 2010).

Căn cứ Điều 317; Điều 320; Điều 321; Điều 322; Điều 323; Điều 324; Điều 463; Điều 465; Điều 466; Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.

Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22 tháng 02 năm 2012 về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 163/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm.

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

  • - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V đối với ông Đỗ Công Đ và bà Đỗ Nhật N.
  • - Xác nhận ông Đỗ Công Đ và bà Đỗ Nhật N còn nợ Ngân hàng TMCP V theo Hợp đồng cho vay số: LN2007012528643 ngày 06/7/2020 tính đến ngày 22/7/2024 là 695.588.192 đồng, trong đó: Nợ gốc: 397.240.000 đồng; Lãi trong hạn là 13.425.756 đồng; Lãi quá hạn là 245.518.956 đồng; Lãi phạt chậm thanh toán là 39.403.480, tổng lãi là 298.348.192 đồng.
  • - Buộc ông Đỗ Công Đ và bà Đỗ Nhật N phải thanh toán trả cho Ngân hàng TMCP V số tiền nợ của Hợp đồng cho vay số: LN2007012528643 ngày 06/7/2020 tính đến ngày 22/7/2024 là 695.588.192 đồng, trong đó: Nợ gốc: 397.240.000 đồng; Lãi trong hạn là 13.425.756 đồng; lãi quá hạn là 245.518.956 đồng; Lãi phạt chậm thanh toán là 39.403.480, tổng lãi là 298.348.192 đồng.
  • - Kể từ ngày 23/7/2024, ông Đỗ Công Đ và bà Đỗ Nhật N còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo thoả thuận trong Hợp đồng cho vay cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.
  • - Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật ông Đỗ Công Đ và bà Đỗ Nhật N không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số tiền nợ trên cho Ngân hàng TMCP V thì Ngân hàng TMCP V có quyền xử lý tài sản thế chấp hoặc yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Tài sản thế chấp là toàn bộ quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 35-1, tờ bản đồ số: 22; diện tích 89 m²; tại địa chỉ: Tổ dân phố A, phường P, quận H, thành phố Hà Nội, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CU 122310, số vào sổ cấp GCN: CS-HĐO 28965 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 15/01/2020 cho ông Đỗ Công Đ1 để thu hồi nợ. Tài sản bảo đảm được xử lý theo diện tích và kích thước thực tế tại thời điểm xử lý tài sản. Những người đang sinh sống trên thửa đất nêu trên có trách nhiệm bàn giao tài sản thế chấp để thi hành án.
  • Trường hợp ông Đỗ Công Đ và bà Đỗ Nhật N thanh toán được số tiền nêu trên cho Ngân hàng TMCP V thì Ngân hàng TMCP V có trách nhiệm trả lại giấy tờ nhà đất bản chính đã thế chấp tại Ngân hàng cho người thế chấp tài sản và làm thủ tục giải chấp ngay.
  • Trường hợp số tiền thu được từ việc phát mại tài sản thế chấp không đủ để thanh toán nợ thì ông Đỗ Công Đ và bà Đỗ Nhật N còn phải tiếp tục thanh toán cho đến khi trả hết nợ. Trường hợp số tiền phát mại tài sản thế chấp thu được nhiều hơn số tiền phải thanh toán thì phải trả lại cho ông Đ, bà N.
  • Về án phí: Ngân hàng TMCP V không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả Ngân hàng TMCP V số tiền 15.740.000 đồng mà Ngân hàng TMCP V đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003918 ngày 16/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự quận Hà đông.
  • Ông Đỗ Công Đ và bà Đỗ Nhật N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 31.824.000 đồng (chưa nộp).
  • Án xử công khai sơ thẩm có mặt đại diện của nguyên đơn ông Nguyễn Huy H; vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án. Bị đơn, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án và bản án được niêm yết hợp lệ.
  • Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND quận Hà đông;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Thanh Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 79/2024/DS-ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 79/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng V và Đỗ Công Đ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger