Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN ND HUYỆN LẠNG GIANG

TỈNH BẮC GIANG


CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


BẢN ÁN SỐ: 79/2024/HS-ST

NGÀY: 20/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần HĐXX sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hằng.

Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Thế Vịnh và ông Chu Quốc Đạt.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên Tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Tuyết - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Lạng Giang. Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 74/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Bá P, sinh năm 1984.

Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn A, xã Y, huyện L, tỉnh Bắc Giang;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Tự do; Bố đẻ: Nguyễn Bá K, sinh năm 1957 (đã chết); Mẹ đẻ: Ngô Thị M, sinh năm 1958; Gia đình có 03 chị em, bản thân là thứ hai; Vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1992 (đã ly hôn); Con: có 01 con sinh năm 2015;

Nhân thân:

- Bản án số 12/2003/HSST ngày 09/5/2003, Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang xử phạt 06 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Đã chấp hành xong hình phạt tù, chấp hành xong án phí HSST ngày 01/7/2003.

- Bản án số 45/2010/HSST ngày 01/7/2010, Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Đã chấp hành xong thời gian thử thách; chấp hành xong án phí HSST ngày 31/8/2010.

- Bản án số 67/2016/HSST ngày 02/11/2016, Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang xử phạt 07 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/12/2017, chấp hành xong án phí HSST và hình phạt bổ sung ngày 30/7/2018.

Tiền án: Bản án số 67/2021/HS-ST ngày 14/9/2021, Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/3/2022, chưa chấp hành án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/5/2024. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện L - (Có mặt tại phiên tòa).

+ Bị hại:

  1. Anh Nguyễn Danh Đ, sinh năm 1994 – (Vắng mặt).
  2. Địa chỉ: TDP Ô, thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

  3. Chị Nguyễn Thị M1, sinh năm 1982.
  4. Địa chỉ: Thôn A, xã Y, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

    - Người đại diện hợp pháp của chị Nguyễn Thị M1:

    Bà Ngô Thị M, sinh năm 1958 – (Có mặt).

    Địa chỉ: Thôn A, xã Y, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

  5. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
    1. Anh Lê Bảo A, sinh năm 2003 – (Vắng mặt).
    2. Địa chỉ: Khu đô thị M, thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

    3. Anh Nguyễn Văn M2, sinh năm 1993 – (Vắng mặt).
    4. Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

    5. Anh Trần Văn T, sinh năm 1983 – (Vắng mặt).
    6. Địa chỉ: T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

    7. Anh Phạm Văn Q, sinh năm 1990 – (Vắng mặt).
    8. Địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

  6. Người làm chứng
    1. Bà Hoàng Thị O, sinh năm 1968 – (Vắng mặt).
    2. Địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

    3. Anh Nguyễn Bá L, sinh năm 1973 – (Vắng mặt).
    4. Anh Nguyễn Bá T1, sinh năm 1982 – (Vắng mặt).
    5. Cùng địa chỉ: Thôn A, xã Y, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

    6. Anh Đỗ Anh M3, sinh năm 1989 – (Vắng mặt).
    7. Địa chỉ: TDP Ồ, thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Bá P, sinh năm 1984, trú tại thôn A, xã Y, huyện L, tỉnh Bắc Giang là người không có nghề nghiệp ổn định, để có tiền chi tiêu cá nhân, trong tháng 5/2024 P đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 12 giờ ngày 03/5/2024, P đến cửa hàng bánh mì của anh Lê Bảo A, sinh năm 2003 ở Khu đô thị M, thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang mượn chiếc xe máy điện nhãn hiệu TH CEO 133XS màu đỏ, biển kiểm soát 98MĐ5-120.09 của Bảo A để mang đi cầm cố thế chấp vay tiền, Bảo A đồng ý và giao xe cùng chìa khoá cho P. Sau đó, P điều khiển xe đi về nhà rồi mang xe ra quán sửa xe của anh Đỗ Danh Đ1, sinh năm 1994 ở tổ dân phố Ổ, T thế chấp chiếc xe cho anh Đ1 làm tin để vay 2.000.000 đồng. Sau đó, Bảo A nhiều lần liên hệ với P yêu cầu trả xe nhưng P không có tiền chuộc xe nên lấy lý do bận chưa đi chuộc xe được. Đến khoảng hơn 11 giờ ngày 06/5/2024, P mượn xe mô tô của anh Nguyễn Văn M2, sinh năm 1993 ở thôn T, xã T, huyện L đi đến quán anh Đ1 mục đích để lại chiếc xe mô tô của anh M2 và chuộc xe máy điện của Bảo A. Đến nơi P thấy có nhiều xe mô tô cùng chiếc xe máy điện của Bảo A dựng ở trước cửa nhà anh Đ1, xung quanh không có người nên đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe máy điện để trả cho anh Bảo A. P đi xe máy về nhà nói với anh M2 chở đến khu vực cầu S, xã Y, huyện LGiang. Lúc này khoảng gần 12 giờ, P xuống xe còn anh M2 đi xe mô tô về, P một mình đi bộ đến trước cửa nhà anh Đ1, cầm điện thoại đưa lên tai giả vờ nghe rồi đi đến gần chiếc xe máy điện, P dắt xe quay đầu rồi ngồi lên xe dùng hai chân đẩy xe ra đến quán bánh mì của anh Bảo A và trả chiếc xe máy điện cho chị Lê Thị D, sinh năm 1999 trú tại thôn T, xã T, huyện L (là chị gái anh Bảo A). Ngày 08/5/2024 anh Đỗ Danh Đ1 có đơn trình báo vụ việc trên đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L.

Vụ thứ hai: Chị Nguyễn Thị M1, sinh năm 1982, trú tại thôn A, xã Y, huyện L và Nguyễn Bá P là chị em ruột, P sống cùng nhà với mẹ đẻ là bà Ngô Thị M, sinh năm 1958 cạnh nhà chị M1. Gia đình chị M1 thuộc hộ nghèo nên tháng 5/2023 chị M1 được Hội chữ thập đỏ xã Y tặng 01 con bò cái, loại bò lai, màu vàng để làm ăn phát triển kinh tế. Sau khi tiêu hết số tiền cắm chiếc xe đạp điện, P nảy sinh ý định trộm con bò của chị M1 bán lấy tiền chi tiêu. Sáng ngày 11/5/2024 P gọi điện cho anh Trần Văn T, sinh năm 1983 ở thôn C, xã T, huyện L nhờ tìm người mua bò. Khoảng 12 giờ cùng ngày anh T gặp anh Phạm Văn Q, sinh năm 1990 ở thôn C, xã T, huyện L tại quán nước gần ngã tư V nên hỏi Q có mua bò không, Q đồng ý mua. Cùng lúc đó P gọi điện nói với T vào nhà xem bò đang được buộc ở vườn nhà chị M1, khi T vào xem đã dùng điện thoại chụp ảnh con bò gửi cho Q, Q xem và gọi điện trả giá 9.000.000 đồng, P đồng ý bán và bảo Q cho xe lên nhà chở. Do không có xe nên anh Q hẹn hôm sau lên nhưng P hẹn đến tối sẽ dắt bò xuống nhà cho anh Q. Khoảng 19 giờ cùng ngày, lợi dụng lúc chị M1 không có nhà nên P đã sang nhà chị M1, lúc này con bò đang được buộc dây vào gốc cây nhãn bên phải hướng từ ngoài cổng nhìn vào. P đi vào tháo dây buộc rồi dắt bò ra khỏi cổng đi đến thôn C, xã T gọi anh T ra

đón, anh T bảo Q ra đón P. Sau đó Q đi xe mô tô ra đón P vào nhà, lúc này trong nhà có anh T, anh Q và bà Hoàng Thị O, sinh năm 1968 (mẹ đẻ Q). Anh Q xem bò và xin bớt 200.000 đồng, P đồng ý. Khi giao dịch bà O viết giấy thỏa thuận mua bán bò và quay video ghi lại quá trình giao dịch mua bán, P đọc và ký tên vào giấy xác nhận. Sau đó anh Q đưa cho P 8.800.000 đồng, anh Q chở P ra ngã tư thị trấn V rồi P đi bộ về nhà. Khi P về đến nhà thì bà M phát hiện không thấy con bò hỏi P thì P nói đã bán bò của chị M1, bà M yêu cầu P dẫn đến nơi bán bò để chuộc lại. Trên đường đi P đưa cho bà M 1.000.000 đồng sau đó bỏ đi nên bà M không chuộc được bò.

Tại Kết luận định giá tài sản số 44/KL-HĐĐGTS ngày 09/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản tài sản trong tố tụng hình sự huyện L, kết luận: Giá trị 01 (một) chiếc xe máy điện nhãn hiệu TH CEO 133XS màu đỏ, đăng ký mới lần đầu tháng 3/2022, tại thời điểm tháng 5/2024 có giá 2.300.000 đồng.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 46/KL-HĐĐGTS ngày 16/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản tài sản trong tố tụng hình sự huyện L, kết luận: Giá trị 01 (một) con bò cái màu vàng, loại bò lai, khoảng 1,5 tuổi, khối lượng khoảng 300 kg, con bò thể trạng béo tốt không ốm đau bệnh tật, tại thời điểm ngày 11/5/2024 có giá 14.000.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 75/CT-VKS ngày 24/7/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang truy tố Nguyễn Bá P phạm tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Kết thúc phần tranh luận, sau khi đánh giá tính chất vụ án, nhân thân cũng như mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Đại diện VKSND Huyện Lạng Giang vẫn giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị HĐXX: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm g, h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Bá P từ 15 đến 20 tháng tù. Ngoài ra đại diện VKS còn đề nghị HĐXX xử lý về trách nhiệm dân sự, vật chứng và án phí của vụ án.

- Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát và có ý kiến đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Người đại diện cho bị hại đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của KSV, ý kiến của bị cáo, người bị hại trong vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Việc đánh giá chứng cứ: Tại phiên tòa, qua xét hỏi bị cáo Nguyễn Bá P khai nhận: Trong khoảng thời gian từ ngày 06/5/2024 đến ngày 11/5/2024, Nguyễn Bá P đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện L, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 12 giờ ngày 06/5/2024, tại nhà anh Đỗ Danh Đ1, sinh năm 1994 ở tổ dân phố Ô, thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Nguyễn Bá P trộm cắp 01 chiếc xe máy điện nhãn hiệu TH CEO 133XS màu đỏ, biển số 98MĐ5-120.09 trị giá 2.300.000 đồng của anh Đ1.

Vụ thứ hai: Khoảng 19 giờ ngày 11/5/2024, Nguyễn Bá P trộm cắp 01 con bò cái màu vàng, loại bò lai, khoảng 1,5 tuổi, khối lượng khoảng 300 kg trị giá 14.000.000 đồng của chị Nguyễn Thị M1, sinh năm 1982 ở thôn A, xã Y, huyện L, tỉnh Bắc Giang (chị gái P).

Tổng trị giá tài sản P trộm cắp là 16.300.000 đồng.

Lời khai nhận tội của bị cáo được chứng minh bằng đơn trình báo, lời khai của bị hại, người có liên quan, tang vật chứng thu giữ tại hiện trường và phù hợp với thời gian địa điểm xảy ra tội phạm. Như vậy HĐXX có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Bá P phạm tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Bản cáo trạng số 75/CT-VKS ngày 24/7/2024 của VKSND huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang đã truy tố đối với Nguyễn Bá P về hành vi phạm tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự coi thường pháp luật, hành vi đó không những đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương, gây bức xúc phẫn nộ và làm hoang mang tinh thần trong quần chúng nhân dân. Do đó phải xử phạt đối với bị cáo để giáo dục riêng, đồng thời răn đe ngăn chặn phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS đối với bị cáo HĐXX thấy:

[4.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên và tái phạm, quy định tại Điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo xuất thân từ thành phần lao động, sau khi phạm tội đã đến cơ quan điều tra đầu thú, đại diện bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo quy định tại điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4.3] Xét về nhân thân của bị cáo: Bị cáo là người phạm tội có nhân thân

  • Bản án số 12/2003/HSST ngày 09/5/2003, Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang xử phạt 06 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có".
  • Bản án số 45/2010/HSST ngày 01/7/2010, Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.
  • Bản án số 67/2016/HSST ngày 02/11/2016, Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang xử phạt 07 tháng tù về tội “Đánh bạc”.
  • Bản án số 67/2021/HS-ST ngày 14/9/2021, Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/3/2022, chưa chấp hành án phí hình sự sơ thẩm.

Mặc dù bản thân P đã nhiều lần bị Tòa án xử phạt về các hành vi phạm tội, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học sửa chữa mà vẫn tiếp tục tái phạm tội, chứng tỏ bị cáo là con người khó giáo dục. Do vậy xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên, sau khi phân tích đánh giá nhân thân của bị cáo, HĐXX xét cần bắt bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian cần thiết mới đủ điều kiện cải tạo giáo dục bị cáo trở thành con người làm ăn lương thiện, áp dụng Điều 38 BLHS đối với bị cáo.

[5] Hiện bị cáo đang bị tạm giam. Để đảm bảo cho việc thi hành án, HĐXX xét cần tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày theo quy định tại Điều 329 BLTTHS.

[6] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, lẽ ra cần áp dụng khoản 5 Điều 173 BLHS phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo để sung công quỹ nhà nước. Tuy nhiên xét thấy điều kiện hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo không có công ăn việc làm ổn định, vợ chồng ly hôn, không có tthu nhập kinh tế nên HĐXX xét miễn phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo để bị cáo yên tâm cải tạo, sớm có điều kiện trở về với gia đình.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, Anh Phạm Văn Q yêu cầu bị cáo bồi hoàn số tiền 8.800.000 đồng, đến nay P vẫn chưa trả được tiền

cho anh Q. Cần buộc Nguyễn Bá P phải hoàn trả cho anh Phạm Văn Q số tiền 8.800.000 đồng.

Chị Nguyễn Thị M1 do bà Ngô Thị M là mẹ đẻ đại diện đã nhận lại tài sản là con bò và không yêu cầu gì đối với P.

[8] Về vật chứng: Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, cơ quan điều tra thu giữ của P 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu xám cũ đã qua sử dụng, số Imel 353255074414874 lắp sim số thuê bao 0984451009, tại phiên tòa bị cáo đề nghị xin lại nên cần trả lại cho bị cáo để sử dụng, song tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.

[9] Về hành vi của những người liên quan: Đối với Phạm Văn Q là người mua bò của P và Trần Văn T là người giới thiệu để P bán bò, anh Q và T không biết con bò là tài sản do P trộm cắp nên CQĐT không đề cập xử lý.

Tại phiên tòa hôm nay bị hại, người làm chứng trong vụ án vắng mặt, tuy nhiên đã được Tòa án đã tiến hành tống đạt giấy báo phiên tòa đầy đủ, hợp lệ, do vậy quyền lợi đã được đảm bảo.

[10] Về án phí: Căn cứ Điều 136 BLTTHS và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH Bị cáo Nguyễn Bá P phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 440.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo Điều 331; Điều 333 BLTTHS.

[12] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm g, h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự. Điểm a khoản 3 Điều 106; Điều 331; Điều 333 và Điều 30 BLTTHS; Điều 584; Điều 585; Điều 586 và Điều 589 Bộ luật Dân sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:

- Xử phạt Nguyễn Bá P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Thời gian thụ hình tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 18/5/2024.

2. Về trách nhiệm dân sự: Buộc Nguyễn Bá P phải có trách nhiệm bồi hoàn cho anh Phạm Văn Q số tiền 8.800.000 đồng (Tám triệu, tám trăm ngàn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án

còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

3. Về vật chứng: Trả lại cho Nguyễn Bá P 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu xám cũ đã qua sử dụng, số Imel 353255074414874 lắp sim số thuê bao 0984451009.

4. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Bá P phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 440.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

Báo cho bị cáo, bị hại có mặt biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có 15 ngày kháng cáo, kể từ ngày nhận tống đạt bản án vắng mặt./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lạng Giang.
  • - Chi cục THADS Lạng Giang.
  • - CQĐT + CQTHAHS Công an LG.
  • - Trại tạm giam CA tỉnh BG.
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Lưu.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 79/2024/HS-ST ngày 20/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 79/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Bá Phúc - Trộm cắp tài sản K1 Đ 173
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger