Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN AN PHÚ

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 79/2024/HSST

Ngày 29 tháng 10 năm 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Lê Thị Sang.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Phước Tân và ông Trương Văn Hăng

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thanh Trúc Phương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Vĩnh Tín - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 69/2024/HSST, ngày 02 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 282/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:

Trần Thị Phương K (Á), sinh năm 1976 tại thị xã T, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú: Khóm A, thị trấn A, huyện A, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Hùng C và bà Tiêu Thị M; chồng Nguyễn Văn B và có 02 người con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 06/8/2024 đến nay (có mặt).

- Bị hại: Bà Hồ Thị Ngọc G, sinh năm: 1971; nơi cư trú: Khóm A, thị trấn A, huyện A, tỉnh An Giang. (Có mặt)

- Người làm chứng: Bà Võ Thị Cẩm H. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 29/7/2024, bà Hồ Thị Ngọc G cho bà Trần Thị Phương K vay số tiền 175.000.000 đồng để đáo hạn ngân hàng. Khoảng 08 giờ 50 phút, ngày 30/7/2024, K đem tiền đến nhà bà G, để trả 175.000.000 đồng. Tại gian nhà trước của bà G, K và bà G cùng kiểm đếm tiền, khi xác nhận đủ số tiền 175.000.000 đồng, bà G để số tiền trên vào lại bọc nilon màu vàng và trả số tiền 500.000 đồng tiền lãi cho bà G. Tiếp đó, K đi vào nhà bếp của bà G để rửa chén, sau khi rửa chén xong, K đi ra gian nhà trước thì thấy bọc nilon đựng số tiền K vừa trả cho bà G để ở phía sau cánh cửa của gian nhà chính, K lấy trộm số tiền trên để vào trong túi áo khoác rồi đem về nhà cất giấu. Khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, bà G phát hiện số tiền K trả 175.000.000 đồng bị mất và đến Công an thị trấn A trình báo vụ việc.

Ngày 01/8/2024, Công an thị trấn A mời K đến làm việc nhưng K không thừa nhận hành vi lấy trộm tiền của bà G. Khoảng 14 giờ ngày 02/8/2024, K đem 175.000.000 đồng tiền lấy trộm đến trả cho bà G. Bà G và K cùng kiểm điếm lại, xác định tổng số tiền 175.000.000 đồng. Ngày 05/8/2024, K đến Công an thị trấn A đầu thú thừa nhận đã lấy trộm 175.000.000 đồng của bà G. Ngày 06/8/2024, Trần Thị Phương K bị khởi tố để điều tra.

Cáo trạng số: 63/CT-VKSAP-HS ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú đã truy tố Trần Thị Phương K về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Thị Phương K khai nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án nêu trên.

Lời khai của các bị hại Hồ Thị Ngọc G trong quá trình điều tra phù hợp nội dung vụ án. Bà G đã nhận lại tài sản, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không yêu cầu bị cáo bồi thường.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trần Thị Phương K từ 01 (một) năm 06 tháng đến 02 (hai) năm tù. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Bị cáo không bào chữa và tranh luận gì, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều thực hiện đúng pháp luật.

Tại phiên toà, người làm chứng bà H vắng mặt, dù đã được Toà án tống đạt hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của bà H không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung:

Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo Trần Thị Phương K đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại về thời gian, địa điểm, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ để kết luận: Ngày 30/7/2024, bị cáo Trần Thị Phương K có hành vi lén lút chiếm đoạt 175.000.000 đồng của bà Hồ Thị Ngọc G. Bị cáo K là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Từ đó có đủ cơ sở kết luận, hành vi của bị cáo Trần Thị Phương K đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự, có khung hình phạt từ 02 năm đến 07 năm tù.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ; ảnh hưởng xấu tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần phải xét xử nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Lẽ ra phải rèn luyện tu dưỡng để trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội. Nhưng vì lòng tham nhất thời, thiếu ý thức chấp hành pháp luật, cùng với sự sơ hở, thiếu cảnh giác trong quản lý tài sản của chủ sở hữu, bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Mục đích bị cáo phạm tội là vì lợi ích vật chất, do nợ nần bên ngoài nên thực hiện hành vi lấy trộm tiền để trả nợ. Bị cáo biết rõ việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó, cần phải có hình phạt tương xứng với mức độ nghiêm trọng của tội phạm.

Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối cải; bị cáo đã nộp lại tiền để khắc phục hậu quả. Tài sản đã được bị cáo trả lại cho bị hại; khi tội phạm bị phát hiện bị cáo đã tự nguyện đến cơ quan Công an để đầu thú về hành vi phạm tội của mình, bị cáo chưa có tiền án tiền sự; bị cáo thuộc diện hộ nghèo, có trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế; người thân của bị cáo gồm: Cha được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhì, bà nội được tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhất, chú là Liệt sĩ. Ngoài ra, bị hại còn có Đơn miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét thấy: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tính chất của vụ án là nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội là vì lòng tham nhất thời, bị cáo có nhân thân tốt nên thống nhất với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội một thời gian là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp, tài sản, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự và biện pháp tư pháp: Tài sản bị mất trộm đã được thu hồi, trao trả cho bị hại bà Hồ Thị Ngọc G. Quá trình điều tra bà G không yêu cầu gì khác nên không xem xét giải quyết.

[7] Về các vấn đề khác: Do bị cáo Trần Thị Phương K thuộc hộ cận nghèo và tại phiên tòa bị cáo xin được miễn án phí. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo K được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Thị Phương K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 54 Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Trần Thị Phương K 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.

Căn cứ vào Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Trần Thị Phương K.

Bị cáo K, bị hại Giàu có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 29/10/2024).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang (1);
  • - VKSND tỉnh An Giang (1);
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang (1);
  • - VKSND huyện An Phú (1);
  • - NTG Công an huyện An Phú (2);
  • - CC THADS huyện An Phú (1);
  • - Phòng HS Công an tỉnh (1);
  • - Bộ phận THAHS Tòa án (1);
  • - UBND thị trấn An Phú (1);
  • - Bị cáo (1);
  • - Đương sự (1);
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Sang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 79/2024/HSST ngày 29/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 79/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo Nguyễn Thị Phương K phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger